Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong tế bào gan, có thể là do thừa cân đơn thuần, có khi là tình trạng nặng hơn gọi là chứng gan thoái hóa mỡ. Bình thường lượng mỡ chỉ chiếm khoảng 3-5% trọng lượng gan.
Khi lượng mỡ trong gan vượt quá 5% trọng lượng gan tức là gan đã nhiễm mỡ ở mức độ nhẹ, tới 10-25% tức là nhiễm mỡ mức độ vừa và nếu vượt quá 30% thì đó là nhiễm mỡ nặng.
Gan nhiễm mỡ do nhiều nguyên nhân và cũng có thể do nhiều bệnh lý đưa đến gan thấm mỡ. Người bị gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng gì, đôi khi có mệt, suy nhược, chán ăn hay thỉnh thoảng đau nhẹ hạ sườn phải.
Bệnh gan nhiễm mỡ có thể xảy đến với những bệnh nhân còn rất trẻ cũng như với những người có bên ngoài gầy nhỏ (trái với hình dung đây là căn bệnh của những người to béo), thậm chí là với cả thai phụ (gan nhiễm mỡ thai kỳ).
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh gan nhiễm mỡ, nhưng nguyên nhân chính phần lớn ở những thói quen sinh hoạt không lành mạnh, vốn là thói quen của rất nhiều người ở thời đại ngày nay như:
- Thói quen ăn uống kém khoa học, thiếu cân bằng dinh dưỡng.
- Lười vận động.
- Một số người bị gan nhiễm mỡ do chất hóa học trong bia rượu, nhiễm độc phospho, Arsenic, chì…
- Bệnh gan nhiễm mỡ còn có thể hình thành do nội tiết, do bệnh tiểu đường, do sự oxy hóa acid béo ở gan bị giảm, rối loạn dinh dưỡng…
- Là hậu quả của việc sử dụng các loại thuốc như corticide, Tetracyclin, các thuốc kháng ung thư, thuốc hocmon sinh dục nữ…
- Do biến chứng của các căn bệnh viêm gan B, C mãn tính gây ra.
Khó phát hiện ngay nhưng hậu quả khôn lường
Gan nhiễm mỡ có thể được coi là sát thủ thầm lặng bởi dấu hiệu của bệnh không rõ ràng khiến mọi người khó nhận biết, nói đúng hơn là mơ hồ hoặc nhầm lẫn với những bệnh khác; vì thế gan nhiễm mỡ cứ âm thầm phát triển, cho tới lúc trở nặng sẽ gây xơ gan, ung thư gan và nhiều hệ lụy nguy hiểm gây ảnh hưởng nghiêm trọng tính mạng người bệnh.
Ở những bệnh nhân gan nhiễm mỡ, do những nguyên nhân khác nhau thì cũng có kèm theo những triệu chứng toàn thân và những dấu hiệu đặc trưng của những nguyên nhân đó. Thông thường khi thăm khám, bệnh nhân chỉ được phát hiện một bất thường về xét nghiệm gan, ví dụ như tăng chỉ số alkaline phosphatase. Các bất thường khác ít gặp hơn là tăng bilirubin huyết thanh trực tiếp và giảm albumin huyết thanh.
Gan nhiễm mỡ khi còn ở thể nhẹ rất khó phát hiện. Người bệnh chỉ có thể phát hiện ra những biểu hiện của bệnh từ những triệu chứng mệt mỏi và cảm giác khó chịu ở vùng hạ sườn phải. Nhiều người khi phát hiện những dấu hiệu của bệnh lại thờ ơ để bệnh phát triển mà không tìm cách chữa trị ngay bởi cho rằng bệnh lành tính. Thực tế gan nhiễm mỡ giai đoạn 1 không đe dọa mạng sống người bệnh cũng không gây ảnh hưởng nhiều tới cuộc sống, nếu được phát hiện sớm thì việc điều trị sẽ dễ dàng bởi gan chưa bị thoái hóa hoàn toàn.
Gan nhiễm mỡ nặng có thể biểu hiện với triệu chứng vàng da và những bất thường rõ rệt trong các kết quả xét nghiệm gan.
Khi trở nặng, gan nhiễm mỡ có thể gây:
- Xơ gan và ung thư gan.
- Dẫn tới các chứng cao huyết áp và xơ vữa động mạch.
- Tiểu đường.
- Suy giảm chức năng thải độc của cơ thể.
- Viêm túi mật.
Gan nhiễm mỡ sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, 90% người lạm dụng bia, rượu bị gan nhiễm mỡ và 75% người thừa cân béo phì mắc căn bệnh này, trong số đó có thể có cả các bạn hoặc những người thân bên cạnh.
Việc phòng và điều trị gan nhiễm mỡ rất cần sự chủ động của tất cả mọi người. Để kiểm soát tốt bệnh gan nhiễm mỡ bạn cũng cần kết hợp kiểm soát những yếu tố nguy cơ gây bệnh. Nếu bạn béo phì nên giảm và duy trì cân nặng ở mức phù hợp, nếu bạn bị tăng lipid máu nên hạ mỡ máu về ngưỡng an toàn, tăng cường vận động và duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, không rượu, không bia và không thuốc lá.
Ngoài ra có thể cân nhắc sử dụng thêm những sản phẩm bổ trợ để tăng cường chức năng gan có ứng dụng công nghệ sinh học và thử nghiệm lâm sàng từ những công ty Dược có uy tín.
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.