Vi khuẩn Hp – thủ phạm thực sự gây bệnh dạ dày
Helicobacter pylori (Hp hay vi khuẩn Hp), do hai bác sỹ người Úc là Warren J.R và Marshall B.J phát hiện ra lần đầu tiên vào năm 1982 đã làm thay đổi hoàn toàn quan điểm về bệnh học và điều trị các bệnh lý dạ dày. Trước đây, nguyên nhân gây các bệnh Viêm dạ dày tá tràng, Loét dạ dày tá tràng được cho rằng gây ra bởi stress tâm lý, chế độ ăn uống, tăng acid dạ dày cho nên việc điều trị bệnh cũng tập trung vào giải quyết các nguyên nhân trên. Tuy nhiên, sau khi phát hiện ra vi khuẩn Hp, các bệnh Viêm dạ dày tá tràng cấp và mạn tính, Loét dạ dày tá tràng được coi như là bệnh nhiễm khuẩn Hp và cần phải điều trị vi khuẩn Hp để chữa bệnh. Vi khuẩn Hp cũng được coi là tác nhân chính gây Ung thư dạ dày (tác nhân nhóm 1, theo WHO).
Tỷ lệ nhiễm khuẩn Hp ở Việt Nam và trên thế giới cao ở mức báo động
Các nghiên cứu cho thấy có khoảng 50% dân số trên thế giới nhiễm khuẩn Hp, trong đó tỷ lệ nhiễm tại các nước đang phát triển lên tới 70-80%.
Tại Việt nam, các kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ nhiễm Hp khoảng 80% dân số. Một nghiên cứu kiểm tra bệnh nhân đến nội soi dạ dày tại Hà Nội và TP HCM phát hiện thấy có tới 65,6% dương tính với vi khuẩn Hp. Đặc biệt 100% bệnh nhân dương tính đều bị viêm dạ dày mạn tính.
Trẻ em cũng bị bệnh do nhiễm Hp và tái nhiễm Hp
Trẻ nhỏ cũng bị nhiễm Hp, xuất hiện ở cả 1-2 tuổi. Tỷ lệ này đang ngày một gia tăng, khiến số lượng trẻ em nhập viện vì bệnh dạ dày cũng tăng lên nhanh chóng. Nghiên cứu tại khoa Nhi - Đại học Y Hà Nội cho thấy 34% trẻ em (tuổi từ 6 tháng đến 15 tuổi) nhập viện dương tính với vi khuẩn Hp. Nghiên cứu cũng cho thấy vi khuẩn Hp có thể lây trực tiếp từ mẹ sang con. Theo dõi 136 trẻ em đã được điều trị diệt Hp thành công tại Bệnh viện Nhi Trung Ương thấy 30 em bị tái nhiễm trong vòng 1 năm. Điều này có nghĩa là sau khi đã tiệt trừ được vi khuẩn Hp, trẻ vẫn rất dễ bị tái nhiễm vi khuẩn Hp.
Sử dụng kháng sinh để diệt vi khuẩn Hp và tỷ lệ đề kháng kháng sinh gia tăng
Phác đồ điều trị phổ biến hiện nay sử dụng 2 loại kháng sinh kết hợp với thuốc ức chế bơm proton. Tuy nhiên tỷ lệ Hp kháng thuốc ngày càng gia tăng ở các nước khiến hiệu quả điều trị bằng kháng sinh bị hạn chế. Tại nước ta tỷ lệ kháng thuốc đối với các kháng sinh thường dùng khá cao như kháng amoxicillin 0-43,6%, clarithromycin 21,43%-57%, metronidazole 44,1-95,5%, levofloxacin 18,4-25,5%, tetracyclin 5,8-23,5%. Một số chủng vi khuẩn Hp kháng nhiều loại kháng sinh cùng lúc. Chính vì vậy hiệu quả tiệt trừ Hp của phác đồ chuẩn tại Việt Nam đã giảm từ 91,7% ( năm 2003) xuống còn 62,5% (năm 2010).
Kháng thể IgY xu hướng đột phá mới giúp loại trừ vi khuẩn Hp
Do điều trị vi khuẩn Hp với kháng sinh bị thất bại nhiều nên các nhà khoa học đã tìm kiếm các phương pháp điều trị không sử dụng kháng sinh như sử dụng probiotics, dịch chiết từ cây cỏ, tuy nhiên, kết quả đạt được còn rất hạn chế. Gần đây việc sử dụng kháng thể từ lòng đỏ trứng gà (IgY) có thể thay thế cho kháng sinh hỗ trợ dự phòng và điều trị vi khuẩn Hp ở người đã đạt được nhiều thành công mang tính đột phá và nhận được sự quan tâm từ các nhà khoa học tại Nhật Bản và trên thế giới.
Cơ chế tác dụng của IgY kháng vi khuẩn Hp (OvalgenHP)
Vi khuẩn Hp có thể sống sót và tăng trưởng tốt trong môi trường acid dạ dày vì vi khuẩn này sản xuất được một loại enzyme gọi là Urease tích lũy trên bề mặt vi khuẩn. Enzyme này giúp phân hủy Urea trong dạ dày thành amoniac và acid carbonic và làm tăng pH tại chỗ khiến cho vi khuẩn có thể sống sót và tăng trưởng. Bên cạnh đó Urease còn giúp vi khuẩn Hp bám vào lớp niêm mạc dạ dày.
Người ta cũng nhận thấy, Urease là protein nổi trội nhất của vi khuẩn Hp, chiếm tới 15% thành phần vách tế bào vi khuẩn. Do Urease có vai trò sống còn với vi khuẩn Hp nên Viện nghiên cứu miễn dịch Gifu (Nhật bản) đã sử dụng enzyme này làm kháng nguyên để sản xuất kháng thể IgY (Ovalgen HP) và sử dụng hỗ trợ kiểm soát nhiễm Hp. Cơ chế tác động của OvalgenHP lên vi khuẩn Hp trong dạ dày:
- Ức chế Urease, khiến vi khuẩn Hp không phân hủy được Urea trong dạ dày.
- Cản trở vi khuẩn Hp bám vào màng nhầy và niêm mạc dạ dày.
- Ngưng kết vi khuẩn Hp, tạo điều kiện cho các tế bào miễn dịch tấn công và tiêu diệt.
- Gây tổn thương cấu trúc tế bào vi khuẩn khiến cho Hp nhạy cảm với thuốc hơn.
Sử dụng OvalgenHP để kiểm soát nhiễm Hp ở người
Tại Nhật bản và một số nước châu Á, OvalgenHP đã được sử dụng trên 10 năm qua dưới dạng các sản phẩm khác nhau gồm sữa chua (dạng đặc, dạng uống), bột hoặc dưới dạng viên nén. Kháng thể này khi được sử dụng đơn độc hoặc dưới dạng thực phẩm chức năng đều cho thấy hiệu quả tốt trên người có Hp dương tính. Hiệu quả khi sử dụng kháng thể OvalgenHP bao gồm việc làm Giảm lượng vi khuẩn Hp trong dạ dày, Giảm đau, Giảm viêm dạ dày, phục hồi niêm mạc dạ dày bị tổn thương do nhiễm khuẩn Hp.
Dưới đây là hình ảnh kết quả một nghiên cứu của Ts. Yamane trên người có vi khuẩn Hp dương tính. Nghiên cứu sử dụng trị số test thở Urea (UBT) và trị số xét nghiệm vi khuẩn trong phân (HpSA) để đánh giá hiệu quả việc sử dụng. Người nghiên cứu được cho sử dụng OvalgenHP hàng ngày trong 12 tuần. Trị số UBT được đánh giá sau 4, 8 và 12 tuần. Kết quả cho thấy cả hai trị số đánh giá vi khuẩn Hp trong dạ dày đều giảm đáng kể sau hai tháng sử dụng, một tỷ lệ không nhỏ có mức UBT về âm tính (<30‰).
Những thử nghiệm khác tiến hành tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan với Ovalgen HP cũng cho thấy hiệu quả tương tự.
Một điều rất đáng chú ý là OvalgenHP dung nạp tốt và không có bất cứ tác dụng bất lợi nào. Do đó OvalgenHP có thể sử dụng trong thời gian dài, trên các đối tượng khác nhau để ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn Hp.
Việc sử dụng OvalgenHP giúp ngăn ngừa, làm giảm nguy cơ viêm dạ dày, loét dạ dày hoặc sự phát triển ung thư dạ dày ở những bệnh nhân nhiễm Hp. OvalgenHP có thể dùng phối hợp với kháng sinh và PPIs (ức chế tiết acid dạ dày) nhằm làm tăng hiệu quả tiệt trừ Hp và có tác dụng ngay cả trong trường hợp vi khuẩn Hp đã kháng kháng sinh.
Với những ưu điểm nổi bật trên đây về hiệu quả, độ an toàn, kháng thể OvalgenHP đang trở thành một liệu pháp miễn dịch đầy hứa hẹn hỗ trợ phòng ngừa và điều trị các bệnh dạ dày do vi khuẩn Hp gây ra.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.