Điểm G: Sự thật hay giả tưởng?
Điểm G là một vị trí nhiều nhạy cảm ở âm đạo được cho là góp phần mang lại khoái cảm cho người phụ nữ khi vùng này được kích thích. Trong dân gian, người ta thường nói đến điểm G và nhiều phụ nữ thường tin rằng điểm này thực sự tồn tại. Các nhà quảng cáo cũng tin là có điểm này, bằng chứng là nhiều quảng cáo trên internet hướng dẫn độc giả cách tìm thấy điểm G của bạn hoặc của bạn tình. Nhưng, chính xác thì điểm G là gì và có phải tất cả phụ nữ đều có điểm G đó không?
Ts Edwin Huang, trưởng khối phụ khoa, Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Boston, Mỹ nói “Cộng đồng y khoa tranh luận về sự tồn tại của điểm G bởi vì chưa có bằng chứng khoa học chứng minh mốc giải phẫu này”.
Vậy thì, điểm G là một giai thoại hay sao? Nó có tồn tại thực sự hay không?
Điểm G là gì?

Người ta cho rằng điểm G (số 4 trên hình vẽ) là một vùng rất nhạy cảm bên trong thành âm đạo, có hình giống hạt đậu ở vị trí khoảng ½ dưới thành trước âm đạo.
Thuật ngữ “điểm G” do Addiego và cộng sự đưa ra từ năm 1981, phỏng theo tên của BS Ernest Grafenberg - người đứng đầu nhóm tác giả lần đầu tiên có bài báo phát hành năm 1950. Bài báo này nói về vùng rất nhạy cảm này trong âm đạo và việc kích thích điểm này sẽ giúp tạo ra cảm giác khoái cảm mạnh mẽ.
Ý tưởng về điểm G trở nên phổ biến từ đầu thập niên 80, khi dư luận quan tâm đến một cuốn sách khá nổi tiếng về tình dục của con người có tên là Điểm G và các khám phá mới về tình dục người (The G Spot and other recent discoveries about human sexuality) của tác giả Alice Kahn Ladas, Whipple và Perry do nhà xuất bản Holt, Rinehart, Winston phát hành năm 1982.
Bằng chứng về điểm G
Mặc dù đã được nghiên cứu từ những năm 1940, các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất về sự tồn tại của cấu trúc đặc biệt này.
Một nghiên cứu năm 2009 tại Anh quốc, sử dụng bảng câu hỏi và sự mô tả các trải nghiệm tình dục, đã kết luận rằng cấu trúc này không chứng minh được sự tồn tại về mặt khoa học mà chỉ dựa theo cảm nhận chủ quan. Nhưng các nghiên cứu khác trên lĩnh vực siêu âm lại phát hiện bằng chứng sinh lý học của điểm G ở những phụ nữ đạt được cực khoái khi giao hợp. Nghiên cứu này cũng đưa ra giả thuyết là điểm G có thể là phần kéo dài thêm của âm vật và đã góp phần tạo ra cảm giác cực khoái cho người phụ nữ.
Tuy nhiên, tổng hợp của TS Huang cho thấy “ Chưa có nhiều nghiên cứu về sự tồn tại của điểm G và cho đến nay chưa có một nghiên cứu giải phẫu học nào cho thấy bằng chứng về vị trí điểm G. Không có sự tập trung của mô thần kinh tại một vùng trong âm đạo nhiều hơn so với các vùng khác“.
Những vùng nhạy cảm nhất của cơ thể chúng ta có mật độ các đầu tận cùng thần kinh trên mỗi centimét vuông diện tích nhiều hơn so với các vùng ít nhạy cảm hơn.
Nếu điểm G tồn tại như mô tả thì chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy được một vùng trong âm đạo có sự tập trung nhiều đầu tận cùng thần kinh. Nhưng cho đến nay thì các nhà khoa học chưa tìm thấy một vùng như vậy.
Tại sao điểm G lại quan trọng?
Tổng hợp các bằng chứng ủng hộ và không ủng hộ sự tồn tại của điểm G cho thấy rằng mặc dù thiếu bằng chứng khoa học, nhiều phụ nữ trên khắp thế giới cũng mặc nhiên chấp nhận sự tồn tại của điểm G. Tuy nhiên, chỉ có điều đáng lo ngại là niềm tin của quá nhiều phụ nữ về sự tồn tại của điểm G đã ảnh hưởng đến tâm lý của những phụ nữ đang muốn cải thiện cuộc sống tình dục của họ. Những phụ nữ không thể tìm thấy điểm G của mình sẽ cảm thấy mình khiếm khuyết một khi họ không thể đạt được khoái cảm. Ý nghĩ này đặc biệt gây phiền toái khi dư luận chú trọng đến việc phẫu thuật cải thiện bộ phận sinh dục, trong đó có thủ thuật “cải tạo điểm G” đang ngày càng gia tăng ở các nước phương Tây, theo ghi nhận của một bài báo trên tạp chí Times.
Huang nói rằng ngoại trừ vị trí, sự mô tả điểm G nghe rất giống với sự mô tả của âm vật- là một vị trí nằm ngay trên lỗ âm đạo. Nếu bạn cần tìm kiếm một cấu trúc giải phẫu nhiều nhạy cảm ở vùng âm hộ âm đạo khi kích thích có thể giúp cho việc đạt được khoái cảm thì âm vật là một điểm rất đáng lưu tâm.
Kết luận
Trong khi có rất ít bằng chứng về sự tồn tại thực sự của điểm G, có nhiều bằng chứng – khoa học hoặc trải nghiệm - cho rằng phụ nữ có thể đạt được khoái cảm bằng việc kích thích âm vật hay một phần âm đạo.
Điều quan trọng trong cuộc sống tình dục là phải biết cởi mở chia sẻ những điều gì làm bạn thích nhất và/hoặc phải biết khám phá những điều mà bạn tình của bạn cảm thấy hứng thú - đó mới chính là chìa khóa cho một đời sống tình dục thỏa mãn và khỏe mạnh.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều nhỏ nhặt để chàng và nàng gắn kết yêu thương
Thận đảm nhiệm nhiều chức năng để duy trì sức khỏe như điều hòa lượng nước và loại bỏ chất thải. Nếu không chăm sóc thận đúng cách, chức năng thận có thể bị suy giảm. Tham khảo một số loại trái cây tốt cho thận.
Có lẽ ít người biết rằng vỏ cam rất giàu một số chất dinh dưỡng, bao gồm chất xơ, vitamin C và các hợp chất thực vật như polyphenol rất có lợi cho sức khỏe.
Bạn có biết một thói quen đơn giản, dễ thực hiện vào mỗi đêm lại có thể là "chiến lược vàng" để quản lý huyết áp của mình không? Câu trả lời là: Đi ngủ đều đặn mỗi tối.
Dâu tằm là loại quả dân dã nhưng giàu dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào có lợi cho sức khỏe, nhất là với một số nhóm người cụ thể.
Mặc dù chiều cao trung bình của người Việt đã cải thiện đáng kể song vẫn còn khá khiêm tốn so với thế giới. Hành trình nâng cao tầm vóc cho thế hệ trẻ đòi hỏi một chiến lược đồng bộ, dài hạn từ chính sách vĩ mô đến từng bữa ăn của mỗi gia đình.
Tình trạng trẻ em từ chối thực phẩm trong giai đoạn mắc bệnh cấp tính, hay còn gọi là chán ăn bệnh lý (Pathological Anorexia), là một cơ chế tự vệ sinh học nhưng đồng thời cũng là một thách thức đối với quá trình điều trị.
Lá mơ lông từ lâu được dùng trong dân gian để hỗ trợ giảm triệu chứng rối loạn tiêu hóa, trong đó có tiêu chảy. Kết hợp lá mơ lông với trứng gà khá phổ biến, nhưng cần hiểu đúng và dùng hợp lý để bảo đảm an toàn.
Giấc ngủ là một hành vi sinh lý thiết yếu, giúp điều hòa hoạt động của cơ thể ở mọi lứa tuổi. Chất lượng giấc ngủ tốt có liên quan mật thiết đến trí nhớ, khả năng học tập và sức khỏe tinh thần. Tuy nhiên, theo thời gian, tình trạng rối loạn giấc ngủ ngày càng gia tăng, bao gồm ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), hội chứng chân không yên (RLS), mất ngủ và thiếu ngủ kéo dài. Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở người trẻ được ghi nhận khá cao, ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu suất làm việc, năng suất cá nhân và tạo ra gánh nặng kinh tế lớn cho xã hội.