Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Đái tháo đường: Gia tăng nhanh và trẻ hóa

Tuy tỷ lệ ĐTĐ của Việt Nam không cao nhất thế giới, nhưng Việt Nam lại có 3 yếu tố nguy cơ:Tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới; Người bệnh đang “trẻ hóa” nhiều và Nhận thức của cộng đồng về đái tháo đường còn rất thấp.

Ngày Đái tháo đường thế giới được được Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế và các hiệp hội thành viên như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada, Nam Phi, New Zealand, Ấn Độ, Việt Nam…tổ chức vào ngày 14 tháng 11 hằng năm nhằm tăng cường nhận thức về căn bệnh, nguy cơ, biến chứng và cách phòng tránh.

Nhằm hưởng ứng ngày Đái tháo đường thế giới năm nay, Tòa soạn giới thiệu bài viết của TS.BS Trần Bá Thoại, một chuyên gia Nội tiết & Chuyển hóa, lưu ý một số vấn đề liên quan căn bệnh “thế kỷ” này:

1. Đái tháo đường là căn bệnh thế kỷ

Năm 1995, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thống kê thấy có 135 triệu người ĐTĐ trên toàn thế giới (chiếm 4% dân số thế giới, nên dự báo năm 2010 sẽ là 221 triệu người và năm 2025 là 330 triệu người mắc căn bệnh này (chiếm 5,4%). Nhưng năm 2011, WHO thống kê lại thì đã có 366 triệu người ĐTĐ và dự kiến đến năm 2030 sẽ có 552 triệu người.

Vì vậy, WHO nhận định rằng: “Thế kỷ XXI này là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa mà điển hình là bệnh ĐTĐ. Những gì mà đại dịch HIV/AIDS đã hoành hành 20 năm cuối thế kỷ XX, thì đó sẽ là điều ĐTĐ làm trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI”.

2. Đái tháo đường đang gia tăng nhanh và trẻ hóa

Tại Việt Nam, theo điều tra năm 2001, tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ tại khu vực nội thành của 4 thành phố lớn là 4%, đến năm 2008 tỷ lệ chung toàn quốc là 5,7% và đến nay đã hơn 6%.

Tuy tỷ lệ ĐTĐ của Việt Nam không cao nhất thế giới, nhưng Việt Nam lại có 3 yếu tố nguy cơ:(1) Tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới, (2) Người bệnh đang “trẻ hóa” nhiều và (3) Nhận thức của cộng đồng về đái tháo đường còn rất thấp.

3. Đái tháo đường có khá nhiều biến chứng

Nếu không được điều trị đúng cách, đái tháo đường có nhiều biến chứng mạn tính như: bệnh lý tim mạch, biến chứng mắt, bệnh lý thần kinh, tổn thương bàn chân đái tháo đường, bệnh thận …

4. Chi phí điều trị tốn kém, gánh nặng tài chánh

Chi phí để điều trị ĐTĐ khá phức tạp, tốn kém, thường gấp 2-4 lần người bình thường. Chi phí bao gồm cả thuốc men, trang thiết bị, xét nghiệm cận lâm sàng, chi phí những lần đi khám, kiểm tra v.v…Hơn nữa, người bệnh nặng, có biến chứng còn bị mất khả năng lao động, giảm thu nhập cho gia đình.

5. Có thể phòng tránh dễ dàng

Tuy nhiên, ĐTĐ có thể phòng tránh được bằng cách làm giảm nguy cơ mắc bệnh thông qua việc thay đổi lối sống.

Cách sống chuẩn mực để phòng bệnh ĐTĐ gồm hai phần: (1) chế độ ăn uống: kiêng ngọt, giảm mỡ, giàu đạm, thêm chất xơ, phân bố thường là 65% đường bột, 20% chất béo, 15 % chất đạm và (2) chế độ vận động tăng cường thể dục nhẹ, đi bộ, dưỡng sinh…

6. Tầm soát đơn giản

Trước đây, định lượng đường máu đói (Go) và Nghiệm pháp dung nạp glucose là hai xét nghiệm kinh điển, cơ bản để xác định ĐTĐ. Gần mười năm trở lại đây, đường máu bất kỳ (Gbk) và HbA1C được đưa vào tiêu chuẩn chẩn đoán, sàng lọc trên toàn thế giới.

Lợi thế của hai xét nghiệm này là tính khả thi: có thể lấy mẫu máu xét nghiệm bất kỳ, đặc biệt vẫn cho kết quả tin cậy khi bệnh nhân đã lỡ ăn no.

7. Có nhiều thuốc điều trị hiệu quả

Hiện nay, thuốc điều trị ĐTĐ có rất nhiều loại, nhưng tựu trung nằm trong 5 nhóm: insulin, kích thích tiết insulin, chống kháng insulin, giảm hấp thu glucose và giảm phân hủy insulin. Tuy nhiên, trong cả bốn thể bệnh ĐTĐ, cuối cùng đều phải dùng đến insulin.

TS.BS Trần Bá Thoại - Theo Dân Trí
Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm