LTS: Sự ra đi của Trần Lập - biểu tượng Rock Việt, biểu tượng cho ý chí chiến đấu chống ung thư - đã thôi thúc chúng tôi tìm những câu trả lời đáng tin cậy nhất về căn bệnh quái ác này từ GS.TS. BS Ian Olver, Tổng Giám đốc Hội đồng Ung thư Úc giai đoạn 2006-2014.
Dù rất bận rộn nhưng GS Ian Olver cũng đã dành thời gian trao đổi thư từ với phóng viên. Và sau 1 tháng kể từ khi nhận được đề nghị, ngày 30/4/2016 GS Ian Olver đã viết riêng cho Trí Thức Trẻ, nêu tổng quan về căn bệnh ung thư đại trực tràng.
Chúng tôi xin cảm ơn GS Ian Olver và trân trọng đăng tải nội dung này đến quý độc giả.
Các yếu tố nguy cơ có thể can thiệp được để ngăn ngừa bệnh bao gồm bị thừa cân hay béo phì, ăn quá nhiều thịt đỏ - đặc biệt là thịt qua chế biến công nghiệp, hút thuốc, và sử dụng chất có cồn.
Chất có cồn
Mối liên hệ giữa rượu bia và ung thư đại trực tràng chưa được biết đến rộng rãi nhưng ở một số khu vực, rượu bia là một trong số các nguyên nhân gây ra tới 17% trường hợp ung thư đại trực tràng.
Bạn có nguy cơ ung thư đại trực tràng khi sử dụng chất có cồn (ở bất cứ lượng nào), và càng sử dụng nhiều nguy cơ càng tăng cao. Nguy cơ không phụ thuộc loại chất có cồn mà là tổng lượng cồn đã hấp thụ.
Để biết uống rượu bia làm tăng nguy cơ đại trực tràng ở nam giới như thế nào, có thể thấy qua tỷ lệ nam giới ở các quốc gia phát triển có 10% nguy cơ bị ung thư đại trực tràng.
Chỉ cần uống 1 cốc rượu bia chứa 10g cồn mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ tới 10% so với những người không sử dụng rượu bia.
Cân nặng, chế độ ăn và vận động
Khá khó khăn để tách bạch ảnh hưởng của cân nặng, chế độ ăn và vận động đối với việc hình thành ung thư đại trực tràng.
Tuy nhiên, ước tính có 11% trường hợp ung thư đại trực tràng là do thừa cân, béo phì. Yếu tố này thậm chí gây nguy cơ cao hơn ở nam giới (lên tới 50%) và không phụ thuộc vào thời kỳ bị béo phì là lúc trẻ hay cao tuổi.
Sử dụng thịt đỏ, thịt qua chế biến công nghiệp cũng làm tăng nguy cơ ung thư. Tiêu thụ mỗi 50g thịt chế biến mỗi ngày làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng lên tới 18%.
Chế độ ăn để giúp giảm nguy cơ là chứa nhiều rau củ và trái cây tươi (5 phần rau, 2 phần trái cây).
Có tới 14% trường hợp ung thư đại trực tràng là do ít vận động. Vận động cũng giúp giảm cân. 60 phút vận động từ trung bình tới mạnh mỗi ngày giúp giảm nguy cơ ung thư. Càng vận động nhiều càng giảm nguy cơ.
Hút thuốc góp phần vào 12% trường hợp ung thư. Ở nam giới, hút thuốc làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng lên tới 20% so với những người không hút.
Triệu chứng cần phải chú ý
Các triệu chứng như thay đổi thói quen tiểu tiện, có máu ở phân hay bị đau và chướng bụng, sút cân có thể là các dấu hiệu để bạn đi kiểm tra.
Tuy nhiên, nên có thói quen kiểm tra định kỳ trước khi xuất hiệu triệu chứng, sử dụng phương pháp xét nghiệm máu trong phân FOBT giúp phát hiện các polyp trước khi chúng phát triển thành ung thư, hay giúp phát hiện ung thư ở giai đoạn rất sớm từ đó có thể điều trị bằng phẫu thuật.
Nếu kết quả xét nghiệm là dương tính, cần soi ruột kết để tìm nguyên nhân chảy máu. Xét nghiệm FOBT được khuyến nghị tiến hành 2 năm một lần khi ở tuổi 50-74.
Người trẻ hơn cũng có thể mắc ung thư vì vậy nếu ở nhóm nguy cơ cao cần xét nghiệm sớm hơn.
Những người ở nhóm nguy cơ cao là có tiền sử gia đình, các bệnh về di truyền như hội chứng lynch, những người bị bệnh viêm ruột kinh niên, những người đã từng xuất hiện polyp hay bị ung thư đại trực tràng trước đó.
Cuối cùng, một số thử nghiệm gần đây cho thấy uống một liều nhỏ aspirin mỗi ngày làm giảm nguy cơ đại trực tràng, đặc biệt đối với những người có nguy cơ cao.
Trong y học hiện đại, việc chẩn đoán chính xác bệnh lý ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố sống còn. Để làm được điều này, các bác sĩ thường nhờ đến sự trợ giúp của một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiên tiến bậc nhất hiện nay: Chụp cộng hưởng từ, hay còn gọi là MRI. Dù thuật ngữ này khá quen thuộc, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như những gì cơ thể sẽ trải qua trong phòng chụp.
Giấc ngủ là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Không chỉ giúp cơ thể phục hồi năng lượng, chất lượng và thời lượng giấc ngủ còn ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể.
Tai nạn đuối nước thường có xu hướng gia tăng vào mùa hè, khi mọi người tìm đến các ao, hồ, sông, suối hay bãi biển để giải nhiệt, nguy hiểm hay gặp nhất là trẻ em. Khi không may xảy ra sự cố, việc sơ cứu kịp thời và đúng cách ngay trong "khoảng thời gian vàng" từ 1-4 phút đầu tiên là yếu tố cốt lõi giúp nạn nhân có cơ hội bình phục tốt hơn, đồng thời hạn chế tối đa biến chứng. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn chi tiết dựa trên các nguyên tắc y khoa chuẩn, vai trò của hô hấp nhân tạo và các biện pháp hỗ trợ.
Các loại thức uống tăng cường sức khỏe, như loại làm từ gừng và nghệ, là những thức uống nhỏ đậm đặc giúp tăng cường năng lượng, cải thiện hệ miễn dịch và hỗ trợ tiêu hóa. Chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất và có thể được pha chế tại nhà, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về lợi ích của chúng.
Lợi ích của việc giữ đủ nước cho cơ thể đối với sức khỏe và tinh thần được biết đến rộng rãi. Nhiệt độ nước cũng có tác động lớn, đặc biệt là uống nước nóng có thêm lợi ích là tăng cường tuần hoàn máu và hỗ trợ tiêu hóa. Để tối đa hóa những lợi ích này, có những thời điểm nhất định trong ngày nên uống nước nóng (50-70 độ C) để bổ sung nước.
Tắm nước đá có thể giúp giảm đau cơ, cải thiện quá trình phục hồi sau khi tập luyện bằng cách giảm viêm và sưng, cải thiện sức khỏe chung. Tắm nước đá có nhiều cách, hiệu quả cũng khác nhau tùy mục tiêu mong muốn, khuyến cáo chung nên ngâm mình trong nước đá khoảng 10 đến 15 phút để đạt được những lợi ích tiềm năng.
Cứ mỗi dịp hè đến với cái nắng oi ả, cũng là thời điểm số vụ tai nạn sông nước gia tăng đáng báo động, trở thành mối hiểm họa khôn lường cho cả người lớn và trẻ em. Để bảo vệ sự an toàn cho cộng đồng và giảm thiểu những thương tâm không đáng có, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cần thiết và khoa học dưới đây, giúp bạn chủ động trang bị các giải pháp bảo vệ toàn diện và bảo vệ bản thân cùng gia đình một cách hiệu quả nhất.
Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí y khoa quốc tế cho thấy, việc bổ sung vitamin D3 liều cao trong thời kỳ mang thai có thể mang lại lợi ích vượt trội cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ.