Hiện có hơn 160 loại đồ ăn có thể gây dị ứng, trong đó 8 thực phẩm trên là chủ yếu. Nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, EU, Nhật, Australia và New Zealand bắt buộc ghi rõ những thành phần này dễ gây dị ứng trên bao bì của tất cả các loại thực phẩm:
Sữa bò
Sữa bò là thủ phạm chính gây dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ. Khoảng 2-3% các bé dị ứng với sữa. Rất may khi lên 6 tuổi, 90% số trẻ này tự khỏi.
Dị ứng sữa bò liên quan tới phản ứng miễn dịch chống lại một trong hai hoặc cả hai protein của sữa là casein và protein huyết thanh. Các protein này cũng có mặt trong sữa của động vật có vú khác, vì vậy bé dị ứng sữa bò thường cũng dị ứng với sữa dê, sữa cừu.
Dị ứng với protein sữa bò thường gây biểu hiện ngoài da (ban đỏ, mày đay, viêm da, chàm), triệu chứng tiêu hóa (đau bụng, rối loạn tiêu hóa), và hô hấp (khó thở, hen) ngay trong giờ đầu sau khi sử dụng. Trường hợp dị ứng nặng có thể gây sốc phản vệ, nguy cơ tử vong cao.
Dị ứng sữa bò làm tăng nguy cơ dị ứng với các thức ăn khác cũng như dị ứng ở mũi. Có tới 10% trẻ dị ứng sữa bò sẽ phản ứng với thịt bò.
Trứng
Trứng cũng là nguyên nhân gây dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ, có khoảng 1,5% các bé dị ứng với trứng gà. Tình trạng này ít gặp ở người trưởng thành, 80% trẻ thoát khỏi dị ứng với trứng khi lên 6 tuổi.
Phần lớn các protein gây dị ứng nằm trong lòng trắng, trong khi protein lòng đỏ ít gây dị ứng hơn. Những trẻ dị ứng trứng gà thường hay dị ứng với trứng vịt, trứng ngan… trong khi sử dụng thịt gà thịt vịt lại không bị dị ứng.
Cá
Dị ứng cá thường bắt đầu ở tuổi trưởng thành. Trong cá chứa thành phần gây dị ứng là protein parvalbumin. Những người có cơ địa dị ứng với một loại cá cũng sẽ bị dị ứng với các loại cá khác.
Khi ở nhiệt độ cao cũng không làm phá hủy tính dị ứng của parvalbumin, vì vậy tránh ăn cá là biện pháp duy nhất để phòng ngừa.
Tôm cua
Dị ứng với hải sản có vỏ cứng như tôm, cua thường xuất hiện ở trẻ lớn và người lớn. Người dị ứng với tôm cua cũng thường dị ứng với các loài nhuyễn thể như trai, sò, ốc, hến, ngao, mực, bạch tuộc…
Triệu chứng dị ứng bao gồm phản ứng cục bộ nhẹ ở miệng (ngứa miệng, họng) tới phản ứng toàn thân, đe dọa tính mạng. Đôi khi có thể có biểu hiện đường tiêu hóa và hô hấp.
Lạc
Khoảng 0,5-1% trẻ bị dị ứng lạc. Không như dị ứng sữa và trứng, bệnh này ít tự khỏi, 75% các bé vẫn dị ứng lạc khi trưởng thành.
Lạc là cây họ đậu có nguồn gốc Nam Mỹ, cùng họ với các loại đậu hạt, đậu nành. Thủ phạm gây dị ứng là các protein dự trữ, nguồn dinh dưỡng cho sự tăng trưởng của cây sau này. Hai protein gây dị ứng mạnh nhất là vicilin và albumin. Theo nghiên cứu thì lạc nướng gây dị ứng nhiều hơn lạc luộc hay lạc rang.
Trong tất cả các loại dị ứng thức ăn, dị ứng với lạc thường có biểu hiện nặng nề nhất. Lạc có thể gây dị ứng mạnh ngay trong lần sử dụng đầu tiên. Người bệnh sẽ có triệu chứng ngứa ran ở môi khi tiếp xúc với lạc. Một vài trường hợp chỉ cần hít phải mùi lạc cũng có thể dẫn tới dị ứng lạc. Bệnh nhân dị ứng lạc cũng thường dị ứng với các loại hạt cây như hạt dẻ, hạt điều, hạnh nhân, hạt dẻ cười…
Hạt cây
Các loại hạt như hạt dẻ, hạt điều, hạnh nhân, óc chó, hạt dẻ cười, hạt thông… được coi là thực phẩm có tiềm năng gây dị ứng bởi chỉ cần một lượng rất nhỏ cũng đủ gây phản ứng dữ dội. Khoảng 0,5% dân số dị ứng với các hạt này, bệnh hiếm khi tự khỏi. Dị ứng hạt điều được cho là nặng hơn dị ứng lạc.
Lúa mì
Khoảng 0,4% trẻ nhỏ dị ứng với lúa mì. Khoảng 80% sẽ tự khỏi khi lên 6 tuổi. Dị ứng lúa mì là phản ứng đặc biệt của hệ miễn dịch với một số protein trong lúa mì như gluten.
Đậu tương
Dị ứng với đậu tương chủ yếu ghi nhận ở trẻ nhỏ bị chàm (viêm da cơ địa), các bé thường thoát khỏi dị ứng sau 1-2 năm không đùng đậu tương. Hiện tượng này ít gặp ở người lớn.
Dị ứng khi dùng thức ăn từ đậu tương có thể gây biểu hiện ngứa và sưng ở miệng họng, buồn nôn, tiêu chảy, viêm mũi dị ứng hay hen và mày đay. Trường hợp nặng bệnh nhân có thể hạ huyết áp, khó thở.
Hít phải bột đậu tương khi làm việc có thể dẫn tới các biểu hiện hô hấp như viêm mũi hay hen. Bệnh nhân dị ứng do hít phải bụi đậu thường không gặp bất thường khi ăn thức ăn từ thực phẩm này. Bụi đậu tương là thủ phạm gây ra dịch hen của công nhân bốc vác tại một số thành phố cảng Tây Ban Nha trong khoảng thời gian 1981-1987 cũng như ở New Orleans (Mỹ) những năm 1950 và 1960.
Nhịn ăn là phương pháp được áp dụng từ lâu đời, dưới nhiều hình thức khác nhau… chúng còn phổ biến trong một sô tôn giáo, hoặc được áp dụng trong một số biện pháp phòng và điều trị bệnh mạn tính, rối loạn chuyển hóa
Biotin được nhiều người truyền tai như một giải pháp giúp tóc mọc dày, chắc khỏe hơn. Vậy nên dùng chất dinh dưỡng này như thế nào?
Tết Trung thu là dịp lễ thiêng liêng của tình thân và sự sum vầy. Tuy nhiên, trước những thay đổi của cuộc sống hiện đại, việc làm thế nào để vừa gìn giữ nét đẹp truyền thống, vừa đảm bảo chế độ ăn uống khoa học, lành mạnh cho cả nhà đang là mối quan tâm của nhiều gia đình. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin và đưa ra những lời khuyên hữu ích ngay sau đây.
Tiêm chủng là một trong những can thiệp y tế công cộng thành công và có hiệu quả nhất hiện nay, giúp cứu sống hàng triệu người mỗi năm. Tuy nhiên, tỉ lệ bao phủ vaccine toàn cầu đang gặp nhiều thách thức. Việc đảm bảo mọi trẻ em đều được tiêm chủng đầy đủ không chỉ bảo vệ sức khỏe cá nhân mà còn xây dựng một cộng đồng an toàn, đẩy lùi dịch bệnh.
Nhiều người thường ăn chuối để bổ sung kali. Tuy nhiên, quả ổi cũng chứa nhiều kali, vitamin C, đồng thời nổi bật với hàm lượng chất xơ và nhiều dưỡng chất khác.
Thưởng thức hải sản tươi ngon là trải nghiệm không thể thiếu khi đi biển vì chúng mang lại hương vị đại dương đặc trưng cùng nguồn dinh dưỡng dồi dào, tuy nhiên loại thực phẩm này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về ngộ độc và dị ứng nếu không được lựa chọn, bảo quản và chế biến đúng cách.
Mang thai là giai đoạn có nhiều thay đổi về nội tiết và tâm lý, một số phụ nữ có thể xuất hiện hoặc trở nặng tình trạng lo âu trong thời gian này.
Để tăng vị ngon và tăng tối đa lợi ích của cà phê, hãy tìm hiểu những cách pha chế này để nâng cao sức khỏe.