Do có tính ôn, vào kinh phế, tỳ và tác dụng hành khí, hóa thấp, kiện ôn vị, chỉ ẩu nên là vị thuốc hữu hiệu chữa các chứng thấp trở trung tiêu, thấp ôn, chứng nôn mửa. Theo y học hiện đại: bạch đậu khấu làm tăng nhu động ruột, gia tăng sự tiết dịch vị, ức chế sự lên men không bình thường ở ruột... nên chữa rối loạn tiêu hóa (kém ăn, khó tiêu, nôn mửa, đầy hơi đi ngoài), trẻ trớ sữa. Ngoài ra, làm thuốc điều kinh, hạ sốt, sốt rét, thấp khớp và giải độc rượu. Liều dùng hằng ngày 4 - 6g, dạng thuốc bột có tác dụng tốt hơn, uống 2 - 4g.
Một số cách dùng bạch đậu khấu:
Hành khí, giảm đau: Thuốc Ngũ cách khoan trung: bạch đậu khấu 6g, hậu phác 8g, quảng mộc hương 4g, cam thảo 4g. Sắc uống. Dùng khi ngực bụng trướng đau do khí trệ.
Hóa thấp tiêu bĩ - Thang tam nhân: bạch đậu khấu 6g, hạnh nhân 12g, ý dĩ nhân 20g, hậu phác 8g, hoạt thạch 16g, trúc diệp 12g, bán hạ 12g, thông thảo 8g. Sắc uống. Trị bệnh thấp ôn, tức ngực khó chịu, rêu lưỡi bẩn nhờn.
Ấm dạ dày, chống nôn: Dùng khi tỳ vị hư hàn, tiêu hóa không tốt, buồn nôn, nôn, ợ hơi đưa ngược lên.
Bài 1: đậu khấu 20g, nghiền thành bột, thêm 1 thìa nước gừng sống làm hoàn. Mỗi lần uống 1 - 4g, chiêu với nước đun sôi. Trị dạ dày lạnh, nôn.
Bài 2: Thang bạch đậu khấu: bạch đậu khấu 6g, hoắc hương 12g, trần bì 6g, gừng sống 8g. Sắc uống. Trị nôn oẹ, phiền vị.
Giải độc rượu: bạch đậu khấu bột 4g, hãm với nước uống.
Hoặc: bạch đậu khấu 5g, cam thảo 5g. Sắc uống.
Chữa trẻ em hay trớ sữa: bạch đậu khấu 4g, sa nhân 4g, cam thảo 3g. Tất cả tán thành bột mịn. Xát vào miệng trẻ.
Chữa nôn khi thai nghén: bạch đậu 3g, trúc nhự 9g, đại táo 5 quả, gừng tươi 3g. Đại táo xé nát, cùng các dược liệu khác sắc đặc. Uống từ từ.
Kiêng kỵ: Người nhiệt, chứng âm hư, huyết táo không nên uống.
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.
Sức khỏe phụ nữ là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ đảm đương vai trò kinh tế mà còn gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, điều này vô tình tạo ra những áp lực lớn lên cả thể chất lẫn tinh thần. Việc trang bị kiến thức về các vấn đề sức khỏe thường gặp là bước đi tiên quyết để chị em chủ động bảo vệ bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp chị em có cái nhìn tổng quan và khoa học nhất về vấn đề này.
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.