Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Cảnh báo tật cong vẹo cột sống ở lứa tuổi học đường

Trẻ nhỏ mắc bệnh vẹo cột sống có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe khiến bé chậm phát triển về chiều cao, về sau còn ảnh hưởng đến ngực, xương ức dẫn đến việc chèn ép phổi, gan và tim. Vấn đề đặt ra là: chúng ta cần làm gì để phát hiện và điều trị bệnh vẹo cột sống ở trẻ em?

Cảnh báo tật cong vẹo cột sống ở lứa tuổi học đường

Cột sống của người bình thường có độ uốn cong tự nhiên để phân phối đều sức nặng của cơ thể. Tuy nhiên trong tật cong vẹo cột sống, cột sống bị cong sang hai bên so với trục sinh lý của cơ thể và các thân đốt sống bị vẹo theo trục của mặt phẳng ngang, khác với tình trạng gù hoặc ưỡn là biến dạng của cột sống theo trục trước sau.

Theo ước tính, cứ 25 trẻ em gái vị thành niên thì có 1 trẻ bị vẹo cột sống và tỷ lệ ở trẻ em trai vị thành niên là 1/200. Hình ảnh chụp X quang của những trẻ bị cong vẹo cột sống cho thấy, cột sống hình thành hình chữ S khá rõ ràng. Một đứa trẻ sẽ được chẩn đoán là vẹo cột sống nếu độ cong của cột sống lớn hơn 10 độ.

Cong vẹo cột sống có thể là biến chứng của bệnh bại liệt, teo cơ và các rối loạn thần kinh trung ương khác, tuy nhiên theo ước tính có 4 trên 5 trường hợp bị cong vẹo cột sống ở trẻ em gái là không rõ căn nguyên. Thông thường thì trẻ bị cong vẹo cột sống cũng sẽ có một thành viên trong gia đình khác gặp phải tình trạng này.

Các triệu chứng của cong vẹo cột sống bao gồm:

  • Tình trạng cong vẹo rõ ràng của phần trên cơ thể
  • Vai không đều nhau, thường đẩy lên cao ở một bên
  • Ngực lõm
  • Có xu hướng nghiêng người sang một bên
  • Đau lưng (hiếm gặp hơn)

Tình trạng cong vẹo cột sống có thể diễn tiến từ vài tháng đến vài năm, do vậy bệnh này thường chỉ được phát hiện khi trẻ được kiểm tra sức khỏe tổng quát bao gồm cả khám phần lưng. Bệnh thường tiến triển nhanh hơn hẳn trong thời kỳ dậy thì, là giai đoạn cơ thể trẻ có phát triển vượt trội về chiều cao, với tỷ lệ là cứ 7 trẻ thì có 1 trẻ bị cong vẹo cột sống nghiêm trọng và cần phải điều trị.

Chẩn đoán

  • Qua kiểm tra thân thể và hỏi tiền sử bệnh
  • Chụp X quang xương

Điều trị

Chỉnh hình đôi – nẹp

Hầu hết trẻ bị cong vẹo cột sống sẽ không tiến triển nặng tới mức cần điều trị. Những trẻ này sẽ được các bác sỹ lên lịch kiểm tra cột sống mỗi 6 tháng một lần từ năm 15 tuổi cho tới 20 tuổi.

Khi khám thấy trẻ có độ cong vẹo trên 25 độ sẽ yêu cầu phải chỉnh hình đôi – nẹp. Có hai dạng chỉnh hình đôi – nẹp cho lưng:

  • Phương pháp Milwaukee: sử dụng một chiếc nẹp cổ cứng để nắn chỉnh lại độ cong bình thường của cột sống ở bất cứ vị trí nào.
  • Phương pháp sử dụng khung cố định cột sống ngực thắt lưng cùng: để điều chỉnh các dị tật liên quan đến các đốt sống vùng ngực và phần dưới. Thiết bị được đặt dưới cánh tay vào bao quanh phần xương sườn, hông và lưng dưới.

Các bệnh nhân sẽ được yêu cầu sử dụng những thiết bị nẹp cố định này ít nhất vài tiếng một ngày cho tới khi xương cột sống ngừng phát triển, tức là vào khoảng 17 – 18 tuổi đối với nữ và 18 – 19 tuổi đối với nam. Phần nẹp cố định này thường không bị lộ ra ngoài và có thể che phủ bằng quần áo, do vậy không quá ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Việc đeo nẹp chỉ ảnh hưởng đôi chút đến các hoạt động hàng ngày, do vậy nên hạn chế chơi các môn thể thao tương tác trong thời gian điều trị.

Phẫu thuật

Thủ thuật nối đốt sống từ phía sau là một phẫu thuật chỉnh hình cột sống thường được khuyến cáo khi độ cong cột sống vượt quá 50 độ. Trong quá trình phẫu thuật, các đốt sống bị ảnh hưởng sẽ được nối lại sử dụng những dây kim loại và đinh vít để cố định  cột sống cho tới khi nó liền lại hoàn toàn. Thông thường thì sẽ mất khoảng 12 tháng.

Mặc dù những trẻ phải phẫu thuật sẽ gặp một số khó khăn trong hoạt động thể chất nhưng bù lại, sẽ không cần phải mang nẹp trên người.

Giúp trẻ lấy lại sự tự tin

Chỉ khoảng 50% trẻ bị cong vẹo cột sống cần điều trị phải sử dụng nẹp để định hình cột sống. Đây là một công việc không dễ chịu, do vậy trẻ thường gặp những mặc cảm về bản thân, ngại sự cười đùa, chê trách của bạn bè và những người xung quanh. Do vậy, cha mẹ cần có cách thích hợp để trợ giúp trẻ vượt qua những ráo cản, khó khăn tâm lý này.

Hãy giúp trẻ hiểu rằng, trong thời gian điều trị, việc mang một cái nẹp lưng có thể tạm thời ảnh hưởng đến hình ảnh của bản thân trẻ, một điều gì đó trông khác người và không mấy dễ chịu. Tuy nhiên, việc điều trị là cần thiết để khỏi hẳn căn bệnh này. Hãy trao đổi cặn kẽ, chi tiết với trẻ về tầm quan trọng của việc tuân thủ các hướng dẫn của bác sỹ. Hãy giúp trẻ hiểu được tác động to lớn của căn bệnh này đối với sự phát triển của cơ thể trẻ và hậu quả trong tương lai. Giúp trẻ thấy được việc điều trị có thể giúp trẻ lâu dài sau này về sức khỏe và sự phát triển của trẻ.

Ngoài ra, cha mẹ cũng có thể tìm đến sự trợ giúp của các chuyên gia tâm lý có kinh nghiệm trong việc tư vấn trẻ em mắc phải một số căn bệnh mãn tính. Sự hỗ trợ của gia đình và các chuyên gia chính là chìa khóa giúp trẻ vượt qua được sự thiếu tự tin về bản thân và tích cực hợp tác trong quá trình điều trị để có thể có được một cơ thể bình thường như bao bạn bè. 

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Cong vẹo cột sống ở trẻ em: bệnh dễ bỏ qua

Ths.Bs. Trần Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Tổng hợp
Bình luận
Tin mới
  • 05/01/2026

    Bệnh nhân ung thư gặp nhiều khó khăn trong thời tiết lạnh

    Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.

  • 04/01/2026

    Uống sữa buổi tối sai cách: Tưởng giúp con cao lớn nhưng lại là sai lầm số 1 gây hại răng

    Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.

  • 04/01/2026

    Tác động của thay đổi thời tiết đến khớp và cách chăm sóc

    Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.

  • 03/01/2026

    Hàm lượng dinh dưỡng của rau củ trong bữa ăn thường ngày

    Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.

  • 03/01/2026

    Các vấn đề về tim mạch trong mùa đông

    Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.

  • 02/01/2026

    Uống rượu ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

    Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.

  • 01/01/2026

    Rau cải xoong có tác dụng gì?

    Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?

  • 01/01/2026

    Viêm tủy xương và cách phòng chống trong thời tiết lạnh

    Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.

Xem thêm