
PGS.TS Nguyễn Quang, Giám đốc Trung tâm Nam học, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: Ngày nay, với chế độ ăn uống không hợp lý, cộng thêm chế độ sinh hoạt, làm việc không điều độ đã làm gia tăng tỷ lệ béo phì trong dân số. Tại Việt Nam, tỷ lệ người quá cân, béo phì khoảng 15% và có xu hướng tăng lên. Béo phì có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ bị suy sinh dục nam giới và là nguy cơ tiềm tàng của vô sinh nam giới.
Nhiều nghiên cứu cho thấy: mối liên hệ trực tiếp giữa chỉ số khối cơ thể và nồng độ testosterone máu, nghĩa là nếu chỉ số khối BMI càng tăng thì nồng độ testosterone máu càng giảm và ngược lại. Các nghiên cứu tiếp theo lại cho thấy lượng testosterone máu làm tăng nguy cơ gây vô sinh nam giới. Một số nghiên cứu khác cho thấy chỉ số khối cơ thể tăng liên quan đến giảm mật độ tinh trùng, giảm tỷ lệ tinh trùng di chuyển nhanh và tăng tỷ lệ vô sinh nam giới.
Nhìn chung, suy sinh dục thứ phát không thường gặp nhưng cũng không hiếm gặp. Đây là một nguyên nhân gây vô sinh nam giới nhưng rất may là suy sinh dục thứ phát có thể chữa được. Testosterone cần thiết cho sự phát triển bình thường của tinh trùng. Nó khởi động các gen hỗ trợ sự biệt hóa các tiền tinh trùng trong tế bào Sertoli.
Ở bệnh nhân suy sinh dục thứ phát, nồng độ testosterone huyết thanh thấp do mất kích thích nội tiết tố sinh dục (gonadotropin) tới các tế bào Leydig và tế bào Sertoli của tinh hoàn, tương ứng dẫn tới giảm sản xuất testosterone và giảm quá trình sinh tinh. Men aromatase tiết ra từ vách liên bào của tổ chức mỡ có vai trò chuyển testosterone thành 17 beta-estradiol.
Béo phì là một trong những nguyên nhân gây suy sinh dục thứ phát. Ở nam giới béo phì, tổ chức mỡ gia tăng làm tăng hoạt động của men aromatase và tăng một cách tương đối nồng độ estradiol, là chất ức chế tiết nội tiết tố sinh dục (gonadotropin) của tuyến yên. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nam giới có chỉ số khối cơ thể tăng có sự gia tăng nồng độ 17 beta-estradiol huyết thanh. Điều thú vị là nồng độ estradiol ở nam giới béo phì không thường xuyên vượt quá giới hạn bình thường, vì vậy, một số tác giả gợi ý tỷ lệ testosterone/ estradiol có ý nghĩa lâm sàng trong việc xác định sự tăng estradiol hơn là chỉ dựa vào một mình nồng độ estradiol. Hơn nữa việc đánh giá nồng độ estradiol ở nam giới có thể là một thách thức đặc biệt vì hầu hết các xét nghiệm dùng để đo nồng độ estradiol đều thiết kế phù hợp để đo nồng độ estradiol cho nữ giới chứ không dành riêng cho nam giới. Tuy nhiên, triệu chứng lâm sàng như vú to cũng như các chỉ số xét nghiệm nên được cân nhắc để đánh giá suy sinh dục thứ phát ở nam giới.
Người béo phì thường bị giảm số lượng tinh trùng và tăng tình trạng rối loạn cương dương. Nguyên nhân có thể do tăng nhiệt độ của tổ chức xung quanh tinh hoàn.
Điều trị vô sinh nam giới có suy sinh dục khác với điều trị suy sinh dục khi không quan tâm đến chuyện có con. Khi chuyện có con không được đặt ra, bổ sung testosterone ngoại sinh cho bệnh nhân suy sinh dục nam là cách đơn giản nhất để làm tăng nồng độ testosterone máu.
Điều trị bổ sung testosterone thường cải thiện chức năng tình dục, ham muốn tình dục, người bệnh sống tích cực hơn, tăng tỷ trọng xương và thành tố cơ thể, mặc dù tác động lâu dài của liệu pháp điều trị lên cơ tim và nguy cơ bệnh tuyến tiền liệt còn chưa xác định cụ thể. Tuy có nhiều lợi ích như vậy nhưng testosterone ngoại sinh có thể ảnh hưởng đến nguyện vọng có con do có tác động phản hồi âm tính lên tuyến yên, vì vậy làm giảm kích thước LH và FSH lên tinh hoàn, do đó tiếp tục ức chế quá trình sinh tinh.
Điều trị vô sinh nam giới do suy sinh dục dựa trên tác động trực tiếp lên tinh hoàn để làm tăng sản xuất testosterone và tăng sản sinh tinh trùng. Cách điều trị là dùng chất hoạt động tương tự như LH lên tinh hoàn, dùng đơn thuần hoặc có thể phối hợp với FSH.
Dù điều trị bằng cách nào thì một điều rất quan trọng là bệnh nhân cần phải giảm cân bằng thay đổi lối sống, điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật giảm béo giúp cho việc điều trị vô sinh đạt hiệu quả hơn. Duy trì cân nặng lý tưởng là rất quan trọng để có cơ quan sinh sản và cuộc sống tình dục khỏe mạnh, giúp người bệnh có khả năng sinh con tốt hơn.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Nguyên nhân thực sự của béo phì và cách giải quyết.
Có một số người không thích ăn rau và trái cây. Mặc dù sức khỏe có thể vẫn bình thường nhưng về lâu dài thói quen ăn uống này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.
Flavonoids là một nhóm hợp chất thực vật (phytonutrients) được tìm thấy rộng rãi trong trái cây, rau củ, trà và rượu vang đỏ. Chúng đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì sức khỏe.
Các kệ siêu thị ngày nay tràn ngập đủ loại gia vị giúp món ăn của bạn thêm bắt mắt và đậm đà. Mỗi loại gia vị có thời gian và cách bảo quản khác nhau. Bạn nên nắm được những quy tắc đó nếu không muốn những lọ gia vị của mình bị lãng phí phải bỏ đi. Hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn biết nên bảo quản những loại gia vị quen thuộc (và cả những loại bạn muốn thử) ở đâu, cũng như thời gian sử dụng an toàn của chúng.
Trong hành trình chinh phục vẻ đẹp toàn diện, chúng ta thường mải mê tìm kiếm những dòng mỹ phẩm đắt tiền hay những bài tập cường độ cao để có da đẹp, dáng xinh mà quên mất rằng gốc rễ của một làn da rạng rỡ và một vóc dáng thanh mảnh nằm chính ở sự cân bằng năng lượng từ bên trong.
Sau 8 năm hoạt động, VIAM Clinic – đơn vị trực thuộc Viện Y học Ứng dụng Việt Nam – đã triển khai các hoạt động thăm khám và tư vấn dinh dưỡng cho trẻ em theo hướng chuyên sâu và cá thể hóa.
Tiểu nhiều lần vào ban đêm là tình trạng khá phổ biến. Người mắc chứng tiểu đêm thường xuyên phải thức giấc giữa đêm để đi tiểu, khiến giấc ngủ bị gián đoạn. Về lâu dài, điều này có thể gây uể oải, mệt mỏi, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Y học thời kỳ xa xưa đã biết dựa vào các loại cây và thảo mộc đặc biệt để chữa bệnh, và chúng vẫn luôn được coi trọng trong xã hội hiện đại. Đối với y học hiện đại, y học cổ truyền đóng một vai trò quan trọng, với các hợp chất và dưỡng chất có lợi cho sức khỏe mang tính an toàn tương đối cao khi sử dụng hợp lý.
Magie là khoáng chất thiết yếu, tham gia vào hơn 300 phản ứng enzyme trong cơ thể, hỗ trợ chức năng cơ bắp, thần kinh, tim mạch và chuyển hóa năng lượng. Thời gian magie tồn tại trong cơ thể phụ thuộc vào một vài yếu tố, nhưng hầu hết các loại magie sẽ được đào thải trong vòng một hoặc hai ngày.