Nếu có tiền sử bệnh tụy và gần đây được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường type 2, đó có thể đó là một dạng tiểu đường mới, gọi là bệnh tiểu đường type 3c. Loại tiểu đường mới này có thể gây ra sự nhầm lẫn của các bác sĩ, điều này có thể ảnh hưởng đến mức độ kiểm soát bệnh của mỗi người.
Một nghiên cứu mới cho biết, loại tiểu đường mới này được gọi là bệnh tiểu đường type 3c và có thể thường bị nhầm với bệnh tiểu đường type 2, dạng bệnh liên quan chặt chẽ nhất đến béo phì.
Do đó, nhiều người mắc bệnh tiểu đường type 3c có thể không nhận được sự chăm sóc mà họ cần từ đó gây ra những hậu quả của bệnh tiểu đường, chẳng hạn như tổn thương mắt, thần kinh và thận.
Bệnh tiểu đường type 3c xảy ra sau bệnh tuyến tụy và còn được gọi là bệnh tiểu đường tụy. Sau khi bệnh tuyến tụy tiến triển ở người bệnh, có thể phát triển bệnh tiểu đường. Những người có triệu chứng dạng này nên được coi là bệnh tiểu đường type 3c.
Khoảng 88% những người mắc bệnh tiểu đường type 3c trong nghiên cứu đã bị chẩn đoán nhầm là mắc type 2 trong khoảng thời gian 10 năm. Nói cách khác: Chỉ 3 phần trăm số người trong nghiên cứu được xác định chính xác là mắc bệnh tiểu đường type 3c.
Tuyến tụy có liên quan phức tạp đến tất cả các dạng bệnh tiểu đường. Nằm phần dưới của dạ dày, cơ quan này chịu trách nhiệm sản xuất insulin, hormone giúp cơ thể sử dụng glucose (đường máu) trong thực phẩm để tạo năng lượng. Bộ phận này đóng một vai trò quan trọng trong sự khác biệt giữa tiểu đường type 1 và type 2: Trong bệnh tiểu đường type 1, tuyến tụy ngừng sản xuất insulin hoàn toàn. Trong bệnh tiểu đường type 2, cơ thể không sử dụng insulin đúng cách. Trong những trường hợp này, tuyến tụy điều chỉnh việc sản xuất insulin để bù đắp cho sự thiếu hụt, nhưng có thể điều hòa sau một thời gian.

Thế nào là tiểu đường type 3c?
Dạng bệnh này có chung một số đặc điểm với bệnh tiểu đường type 1, cụ thể là cần dùng insulin tương đối sớm sau khi chẩn đoán. Tiểu đường 3c cũng mang một số điểm tương đồng với bệnh tiểu đường type 2, bao gồm độ tuổi tương tự trong chẩn đoán và một số yếu tố nguy cơ chung, chẳng hạn như béo phì.
Bệnh tiểu đường type 3c phổ biến hơn bệnh tiểu đường type 1, nhưng ít phổ biến hơn type 2. Chúng cũng khác với bệnh tiểu đường loại 3, mà một số người trong lĩnh vực y tế nói thực sự là bệnh Alzheimer.
Nhóm yếu tố nguy cơ chính của bệnh tiểu đường type 3c là viêm tụy, cả viêm tụy cấp và mãn tính. Viêm tụy là tình trạng viêm ở tuyến tụy và cũng có thể là dấu hiệu của ung thư tuyến tụy. Những người mắc bệnh xơ nang và những người đã phẫu thuật tuyến tụy cũng có nguy cơ mắc bệnh.
Có thể có một số hậu quả về sức khỏe nếu một người có type 3c được chẩn đoán rằng đó là tiểu đường type 2.
Nghiên cứu cho thấy rằng trong khi 5% những người mắc bệnh tiểu đường type 2 được điều trị bằng insulin trong năm năm, thì 21% những người bị viêm tụy cấp và gần một nửa số người bị viêm tụy mãn tính cũng phải sử dụng insulin. Nếu xác định đúng loại bệnh tiểu đường, bệnh nhân sẽ được phân loại, phân tầng điều trị phù hợp.
Những người mắc bệnh tiểu đường type 3c cũng có khả năng kiểm soát lượng đường trong máu kém hơn so với các bệnh tiểu đường type 2. Điều này có nghĩa là họ cần được theo dõi chặt chẽ hơn và họ cần insulin hơn.
Mặc dù chúng ta biết về bệnh tiểu đường vào type 1 và type 2 thì một vài loại khác vẫn tồn tại. Một số người trong nghiên cứu mới có thể mắc bệnh tiểu đường loại hỗn hợp. Mặc dù có những trường hợp mắc bệnh tiểu đường tụy truyền thống hiếm gặp, loại nghiên cứu này được phát hiện những người có bệnh tiểu đường type 2 và có thêm những triệu chứng về tổn thương tụy.
Tiểu đường type 3c xuất hiện khác với bệnh tiểu đường type 2, nhưng mức độ khác nhau tùy thuộc vào mức độ tổn thương hoặc bệnh tụy.
Nếu một người nào đó mắc bệnh tiểu đường và họ có tiền sử bị tổn thương tụy nên đảm bảo rằng bác sĩ của họ biết về điều đó. Nhưng nếu bệnh tiểu đường của họ được kiểm soát tốt và không có bất kỳ triệu chứng khó chịu nào về tụy, họ tạm thời không nên quá lo lắng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Tiểu đường type 2 làm giảm chức năng nhận thức
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.
Bệnh Crohn không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất như đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người bệnh. Xây dựng một thói quen chăm sóc bản thân phù hợp chính là cách để sống chung với bệnh nhẹ nhàng hơn.
HbA1c là chỉ số phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 3 tháng gần nhất, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường.