Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

5 hậu quả đáng sợ của dùng kháng sinh quá liều

Kháng sinh được coi là một phát minh quan trọng trong nền y học hiện đại, nhưng việc lạm dụng kháng sinh sẽ tạo ra những tác dụng không mong muốn đáng tiếc.

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) gần đây đã cảnh báo về hậu quả của việc lạm dụng kháng sinh. Tom Frieden, giám đốc của CDC đã được cảnh báo về tình trạng “cơn ác mộng mang tên vi khuẩn” ở những người đã bị kháng kháng sinh, kể cả những loại hiện đại nhất. Điều này có thể dẫn đến việc hình thành các chủng vi khuẩn gây chết người.

Trong khi các nhà khoa học đang nỗ lực thực hiện các phương pháp để bảo vệ hiệu quả của kháng sinh và làm chậm lại các tình trạng nhiễm trùng tiềm ẩn bằng việc siết chặt thêm các chính sách, thì việc lạm dụng kháng sinh vẫn đang tiếp tục diễn ra và để lại những hậu quả về sức khỏe hết sức nghiêm trọng cho nước Mỹ và cho toàn thế giới.

Kháng sinh làm tăng các trường hợp tiêu chảy chết người ở trẻ nhỏ

Vì đa số các trường hợp cảm lạnh thông thường là do virus nên việc dùng kháng sinh để điều trị virus không thể ngăn chặn được tình trạng nhiễm trùng và có thể tạo ra những tác dụng phụ không mong muốn. Các nghiên cứu đã chứng minh được rằng, một nửa số kháng sinh sử dụng là để kê cho trẻ em bị nhiễm trùng đường hô hấp trên có liên quan đến cảm lạnh.

Một nghiên cứu mới đây của CDC chỉ ra rằng, trẻ em được kê kháng sinh để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên thường nhạy cảm hơn với các chủng kháng thuốc kháng sinh tích cực của một loại vi khuẩn được gọi là C.diff. Nghiên cứu cho thấy, 71% trẻ em nhiễm C.diff được kê một loạt các kháng sinh chống nhiễm trùng hô hấp, tai và họng 12 tuần trước khi nhiễm trùng. “Khi kháng sinh được chỉ định không đúng, trẻ em sẽ bị đưa vào những nguy cơ sức khỏe không cần thiết, bao gồm nhiễm C.difficile và các loại nhiễm trùng vi khuẩn kháng kháng sinh nguy hiểm khác”, theo Frieden.

C.diff là một loại vi khuẩn được tìm thấy ở đường ruột của con người, có thể gây ra tình trạng tiêu chảy nghiêm trọng và là nguyên nhân của 250.000 ca nhiễm trùng trong bệnh viện và 14.000 ca tử vong hàng năm ở trẻ em cũng như người lớn.

Một nghiên cứu gần đây xuất bản trên tạp chí Pediatrics chỉ ra rằng, đơn thuốc kháng sinh cho trẻ em vẫn đang được giữ nguyên, nhưng vẫn nên tiếp tục chú ý để làm giảm lượng kháng sinh phổ rộng kê cho trẻ em trong một số bệnh.

Kháng sinh có thể làm giảm sự nhạy cảm của vi sinh vật đường ruột

Ruột của bạn có chứa khoảng 100 nghìn tỷ vi khuẩn thuộc nhiều chủng khác nhau. Một số chủng có thể nguy hiểm chết người, nhưng vẫn có một sự cân bằng tự nhiên được duy trì trong ruột. Sự cân bằng này có thể sẽ bị ảnh hưởng nếu sử dụng kháng sinh. Các loại kháng sinh tích cực có thể rất có ích trong việc điều trị các tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng, nhưng lại có thể sẽ loại bỏ rất nhiều loại vi khuẩn đường ruột có lợi và để lại nhiều miễn dịch với kháng sinh phát triển. Đó chính là trường hợp của nhiễm vi khuẩn gây tiêu chảy C.diff.

Rất nhiều người, đặc biệt là trẻ nhỏ, nhạy cảm với những tác dụng phụ không mong muốn của những loại kháng sinh không cần tiết, bao gồm việc thay đổi kéo dài của hệ vi sinh vật đường ruột.

Kháng sinh có thể sẽ biến những vi khuẩn có lợi thành vi khuẩn gây hại

Vi khuẩn có khả năng chống lại tác dụng của thuốc kháng sinh thông qua quá trình chuyển gen ngang. Điều đặc biệt là, vi khuẩn không cần phải sinh sản mới có thể truyền gen kháng kháng sinh cho đời sau mà chúng có thể truyền gen này cho “đồng đội” của mình, như cách học trò trong lớp truyền giấy cho nhau. Việc này được gọi là truyền gen ngang.

Một nghiên cứu chỉ ra rằng, vi khuẩn đường ruột có thể truyền gen kháng kháng sinh cho các loại vi khuẩn khác.

Một nghiên cứu ở Đại học Birbeck, London đã chỉ ra cách vi khuẩn tiết ra các gen này từ các màng, việc này đã đưa ra một gợi ý về cách ngăn chặn sự truyền gen của vi khuẩn.

Kháng sinh làm tăng số trường hợp bị bệnh lậu không thể điều trị được

Cùng với C.diff, CDC cũng đã tích cực theo dõi các trường hợp bị lậu kháng kháng sinh. Bệnh lậu không thể điều trị được không chỉ gây đau đớn mà còn liên quan đến tình trạng viêm vùng chậu, chửa ngoài tử cung, vô sinh do ống dẫn trứng và nhiễm trùng mắt ở trẻ sơ sinh.

Một chủng vi khuẩn lậu đặc biệt, tên là Neisseria gonorrhoeae đã kháng lại loại kháng sinh chuyên dùng để điều trị bệnh lậu. Hiện tại, chí có cephalosporin là loại kháng sinh duy nhất đáp ứng được các tiêu chuẩn của CDC để chống lại vi khuẩn lậu kháng kháng sinh.

Năm 2013, có 334.826 ca mắc lậu được báo cáo lại ở Mỹ và đa số các ca nhiễm mới xảy ra ở độ tuổi từ 15 đến 24 (theo CDC).

Kháng sinh làm tăng chi phí mua thuốc và chi phí nằm viện

Nếu tình trạng kháng kháng sinh ngày một phổ biến thì đồng nghĩa với việc các loại kháng sinh cổ điển, phổ biến sẽ không sử dụng được nữa. Việc này có nghĩa là bệnh nhân sẽ phải sử dụng loại kháng sinh khác, đắt tiền hơn, trong thời gian lâu hơn.

Trung bình, vào năm 2009 một bệnh nhân bị kháng kháng sinh sẽ phải tốn từ 18.588 đô la cho đến 29.069 đô la chi phí điều trị. Tống số tiền chi trả cho việc này rơi vào khoảng 20 tỷ đô la mỗi năm ở Mỹ.

Vào năm 2000, Mỹ đã mất khoảng 35 tỷ đô la do các trường hợp tử vong sớm, nằm viện và việc mất tiền lương liên quan đến các tình trạng nhiễm trùng kháng thuốc kháng sinh.

Ths.Bs. Trần Thu Nguyệt (Tổng hợp từ Healthline)
Bình luận
Tin mới
  • 14/04/2026

    Tránh sai lầm phổ biến khi bố mẹ hướng dẫn con ôn thi học kỳ tiểu học

    Kỳ thi học kỳ ở bậc tiểu học là cơ hội để trẻ rèn luyện kỹ năng tự học và quản lý thời gian, nhưng cũng mang lại áp lực không nhỏ từ lịch học và kỳ vọng gia đình. Nếu thiếu sự hỗ trợ đúng cách, học sinh dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tự tin và niềm yêu thích học tập. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp phụ huynh nhận diện những sai lầm phổ biến để xây dựng phương pháp đồng hành hiệu quả

  • 14/04/2026

    6 thói quen hằng ngày giúp 'đốt mỡ' thừa hiệu quả

    Duy trì các thói quen lành mạnh mỗi ngày như ăn đủ protein, ngủ đủ giấc, vận động đều đặn và kiểm soát căng thẳng giúp điều hòa chuyển hóa, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và hỗ trợ giảm mỡ bền vững.

  • 14/04/2026

    Khó ngủ, mất ngủ nên ăn uống thế nào?

    Khó ngủ, mất ngủ hoặc ngủ không sâu giấc thường liên quan đến thói quen sinh hoạt và chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Việc lựa chọn thực phẩm phù hợp có thể giúp cơ thể điều chỉnh nhịp sinh học, cải thiện chất lượng nghỉ ngơi.

  • 13/04/2026

    Lý do nên bỏ muối vào nước luộc trứng

    Nhiều người nghĩ là cho chút muối khi luộc trứng giúp dễ bóc vỏ hơn. Thực tế, nhúm muối nhỏ là một mẹo khoa học giúp luộc trứng hoàn hảo hơn cả.

  • 13/04/2026

    Bố mẹ nên làm gì để giúp con ôn thi học kỳ tiểu học hiệu quả

    Mỗi khi mùa thi học kỳ đến gần, không khí trong nhiều gia đình lại trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Với các bạn nhỏ tiểu học, lứa tuổi còn ham vui, dễ xao nhãng và chưa có kỹ năng tập trung kéo dài, kỳ thi không chỉ là thử thách với con mà còn là một cuộc chiến tâm lý đối với cả bố mẹ. Hiểu được những nỗi lo đó, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin để việc ôn thi học kỳ trở nên nhẹ nhàng hơn. Thay vì áp lực điểm số, sự đồng hành đúng cách của phụ huynh sẽ giúp trẻ vừa nắm vững kiến thức, vừa hình thành được thói quen tự học bền vững.

  • 12/04/2026

    Uống lá chè tươi hay trà khô tốt hơn cho gan?

    Trà xanh chứa các hoạt chất giúp bảo vệ gan hiệu quả. Tuy nhiên, nên lựa chọn lá chè tươi hái vườn hay trà khô để đạt lợi ích cao nhất mà không gây hại cho sức khỏe?

  • 12/04/2026

    Bệnh đái tháo đường type 5

    Bệnh đái tháo đường type 5 (Tiểu đường type 5), trước đây gọi là tiểu đường liên quan đến suy dinh dưỡng (MRDM), là một thể bệnh riêng biệt gắn với suy dinh dưỡng mạn tính và thiếu sự chăm sóc y tế. Sau nhiều năm tranh luận, tháng 1/2025, một nhóm chuyên gia quốc tế đã thống nhất phân loại lại tiểu đường liên quan đến suy dinh dưỡng- MRDM thành tiểu đường type 5. Quyết định này được Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) phê chuẩn tại Đại hội Đái tháo đường Thế giới 2025 ở Bangkok.

  • 11/04/2026

    Mối liên quan giữa giấc ngủ và tăng trưởng ở trẻ từ 5 – 8 tuổi

    Ngủ đủ giấc là yếu tố vô cùng quan trọng đối với trẻ bởi nhiều lý do khác nhau, từ việc hồi phục năng lượng cho cơ thể hoạt động cho tới hoàn thiện các chức năng não bộ. Các bằng chứng khoa học còn chỉ ra rằng giấc ngủ giúp hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Xem thêm