Hội chứng Klinefelter là một bệnh di truyền khi một cậu bé được sinh ra có thêm một nhiễm sắc thể X (47, XXY).
Hội chứng này ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng tinh hoàn, tinh hoàn sẽ có kích thước nhỏ so với tinh hoàn bình thường. Điều này có thể dẫn đến giảm sản xuất hóc-môn nam testosteron. Hội chứng cũng có thể gây giảm khối lượng cơ, ít lông tóc trên toàn bộ cơ thể, có ít hoặc không có râu, và các mô vú to ra. Những ảnh hưởng của hội chứng Klinefelter khác nhau, và không phải tất cả mọi người mắc hội chứng này phát triển các dấu hiệu và triệu chứng giống nhau.
Hội chứng Klinefelter thường không được chẩn đoán cho đến tuổi trưởng thành. Hầu hết đàn ông với hội chứng Klinefelter sản xuất ít hoặc không có tinh trùng. Nhưng các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản có thể giúp cho một số người bị hội chứng Klinefelter vẫn có thể làm cha.
Triệu chứng
Nhiều cậu bé sinh ra với hội chứng Klinefelter ít chú ý đến các triệu chứng của bệnh, tình trạng này không được chẩn đoán cho đến tuổi trường thành. Một số bé trai có ảnh hưởng tới sự phát triển hoặc tới ngoại hình. Một vài trường hợp gặp các vấn đề về nói và học tập.
Những dấu hiệu của bệnh rất thay đổi, khác nhau ở từng độ tuổi:
Trẻ em
Thời niên thiếu
Tuổi trưởng thành
Khi nào cần đến bác sĩ?
Bạn cần đến bác sĩ để đánh giá về hội chứng Klinefelter hoặc các tình trạng bệnh lí khác nếu bạn hoặc con bạn có các vấn đề như:
Chậm phát triển chậm phát triển trong thời thơ ấu hoặc thời niên thiếu. Nếu con của bạn phát triển chậm hơn so với trẻ em trai khác, có các dấu hiệu thường gặp của hội chứng Klinefelter như vú to, bộ phận sinh dục nhỏ, tinh hoàn nhỏ, bạn nên mang con đến gặp bác sĩ. Mặc dù một số sự thay đổi trong sự phát triển về thể chất và tinh thần là bình thường nhưng tốt nhất là bạn nên đến bác sĩ để kiểm tra.
Sự chậm trễ trong sự tăng trưởng và phát triển có thể là dấu hiệu đầu tiên của một số tình trạng bệnh cần điều trị, bao gồm hội chứng Klinefelter. Nếu con của bạn không bị hội chứng Klinefelter thì việc điều trị sớm, bao gồm cả ngôn ngữ trị liệu, có thể giúp ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các vấn đề.
Vô sinh nam: Nếu vợ của bạn đã không có thai sau một năm thường xuyên quan hệ tình dục, không được bảo vệ, hãy đi khám bác sĩ. Vô sinh thường được gây ra bởi các nguyên nhân khác hơn là hội chứng Klinefelter, nhưng nhiều người đàn ông không được chẩn đoán bị bệnh này cho đến khi họ nhận ra họ không thể có con.
Nguyên nhân
Trong số 46 nhiễm sắc thể của con người, hai nhiễm sắc thể giới để xác định giới tính. Ở phụ nữ, cả hai nhiễm sắc thể giới tính là X (XX). Đàn ông có một X và một nhiễm sắc thể giới tính Y (XY).
Hội chứng Klinefelter xảy ra do một lỗi ngẫu nhiên trong sự hình thành của trứng hoặc tinh trùng hoặc trong quá trình thụ tinh, dẫn đến có thêm một bản sao của nhiễm sắc thể X trong mỗi tế bào (XXY). Thêm các bản sao của gen trên nhiễm sắc thể X có thể cản trở sự phát triển tình dục và khả năng sinh sản ở nam giới. Ở mộ số nam giới bị hội chứng này, chỉ có một số tế bào có thêm nhiễm sắc thể X chứ không phải toàn bộ tế bào trong cơ thể (hội chứng Klinefelter thể khảm). Một dạng nặng hơn của Klinefelter, khá hiếm gặp, có thể xảy ra nếu một người đàn ông có thêm nhiều hơn một bản sao của nhiễm sắc thể X.
Yếu tố nguy cơ
Hội chứng Klinefelter bắt nguồn từ một sự kiện di truyền ngẫu nhiên. Nguy cơ sinh ra một đứa trẻ mắc hội chứng Klinefelter không tăng bởi bất cứ điều gì cha mẹ làm hoặc không làm. Đối với bà mẹ lớn tuổi, nguy cơ cao cũng chỉ tăng cao hơn một chút.
Biến chứng
Các biến chứng của hội chứng Klinefelter có thể bao gồm:
Một số biến chứng gây ra bởi hội chứng Klinefelter có liên quan đến nồng độ testosterone thấp (thiểu năng sinh dục). Liệu pháp thay thế testosterone làm giảm nguy cơ của các vấn đề sức khỏe nhất định, đặc biệt là nếu bắt đầu điều trị từ khi có dấu hiệu dậy thì.
Chẩn đoán
Là một phần của thăm khám lâm sàng, bác sĩ sẽ kiểm tra bộ phận sinh dục và ngực của bạn (hoặc con trai của bạn) và có thể làm các xét nghiệm để kiểm tra các phản xạ và chức năng tâm thần.
Các xét nghiệm chính được sử dụng để chẩn đoán hội chứng Klinefelter là:
Điều trị
Nếu bạn hoặc con trai của bạn được chẩn đoán hội chứng Klinefelter thì việc điều trị sớm sẽ hạn chế tối thiểu các vấn đề.
Mặc dù không có phương pháp nào để sửa chữa các nhiễm sắc thể giới nhưng điều trị sớm sẽ mang lại nhiều lợi ích.
Các biện pháp điều trị bao gồm:
Có một số người không thích ăn rau và trái cây. Mặc dù sức khỏe có thể vẫn bình thường nhưng về lâu dài thói quen ăn uống này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.
Flavonoids là một nhóm hợp chất thực vật (phytonutrients) được tìm thấy rộng rãi trong trái cây, rau củ, trà và rượu vang đỏ. Chúng đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì sức khỏe.
Các kệ siêu thị ngày nay tràn ngập đủ loại gia vị giúp món ăn của bạn thêm bắt mắt và đậm đà. Mỗi loại gia vị có thời gian và cách bảo quản khác nhau. Bạn nên nắm được những quy tắc đó nếu không muốn những lọ gia vị của mình bị lãng phí phải bỏ đi. Hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn biết nên bảo quản những loại gia vị quen thuộc (và cả những loại bạn muốn thử) ở đâu, cũng như thời gian sử dụng an toàn của chúng.
Trong hành trình chinh phục vẻ đẹp toàn diện, chúng ta thường mải mê tìm kiếm những dòng mỹ phẩm đắt tiền hay những bài tập cường độ cao để có da đẹp, dáng xinh mà quên mất rằng gốc rễ của một làn da rạng rỡ và một vóc dáng thanh mảnh nằm chính ở sự cân bằng năng lượng từ bên trong.
Sau 8 năm hoạt động, VIAM Clinic – đơn vị trực thuộc Viện Y học Ứng dụng Việt Nam – đã triển khai các hoạt động thăm khám và tư vấn dinh dưỡng cho trẻ em theo hướng chuyên sâu và cá thể hóa.
Tiểu nhiều lần vào ban đêm là tình trạng khá phổ biến. Người mắc chứng tiểu đêm thường xuyên phải thức giấc giữa đêm để đi tiểu, khiến giấc ngủ bị gián đoạn. Về lâu dài, điều này có thể gây uể oải, mệt mỏi, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Y học thời kỳ xa xưa đã biết dựa vào các loại cây và thảo mộc đặc biệt để chữa bệnh, và chúng vẫn luôn được coi trọng trong xã hội hiện đại. Đối với y học hiện đại, y học cổ truyền đóng một vai trò quan trọng, với các hợp chất và dưỡng chất có lợi cho sức khỏe mang tính an toàn tương đối cao khi sử dụng hợp lý.
Magie là khoáng chất thiết yếu, tham gia vào hơn 300 phản ứng enzyme trong cơ thể, hỗ trợ chức năng cơ bắp, thần kinh, tim mạch và chuyển hóa năng lượng. Thời gian magie tồn tại trong cơ thể phụ thuộc vào một vài yếu tố, nhưng hầu hết các loại magie sẽ được đào thải trong vòng một hoặc hai ngày.