Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

“Yêu” trong mùa xuân thế nào thì tốt?

Cổ nhân cho rằng “xuân nhất, hạ nhị, thu nhất, đông vô”, ý muốn nói “liều lượng” hành phòng mỗi mùa mỗi khác, nếu như mùa xuân và mùa thu là 1 thì mùa hạ là 2 và mùa đông thì hạn chế ở mức thấp nhất.

“Yêu” trong mùa xuân thế nào thì tốt?

 

Theo quan niệm của y học cổ truyền, tần số và khả năng sinh hoạt tình dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự ảnh hưởng của khí hậu thời tiết bốn mùa có ý nghĩa khá quan trọng. Cổ nhân cho rằng, sinh hoạt phòng trung phải thuận theo sự biến đổi của thiên nhiên, phải tuân thủ quy luật “xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng” (mùa xuân thì sinh ra, mùa hạ thì trưởng thành, mùa thu thì thu liễm, mùa đông thì bế tàng).

Mùa xuân lạm bàn về sức khỏe tình dục

Mùa xuân là mùa vạn vật bắt đầu nảy nở, khí trời ấm áp, khí đất phát sinh, lúc này dương khí trong muôn loài và nhân thể từ từ hồi sinh và thăng phát, hân hoan chào đón hơi ấm của mùa xuân sau một thời gian dài liễm tàng dưới thời tiết của mùa đông lạnh giá. Cơ thể con người cũng hưng phấn cùng trời đất, toàn thân cảm giác nhẹ nhõm, tay chân linh hoạt, tinh thần phấn chấn, sức lực sung mãn, quá trình chuyển hóa thay cũ đổi mới cũng dần dần vượng thịnh, năng lực và ham muốn tình dục trong nhân thể cũng thuận ứng mà sinh phát. Theo đó, sinh hoạt phòng trung có thể trở lại bình thường và gia tăng sau 3 tháng mùa đông kiềm chế để tàng tinh dưỡng khí. Cổ nhân cho rằng “xuân nhất, hạ nhị, thu nhất, đông vô”, ý muốn nói “liều lượng” hành phòng mỗi mùa mỗi khác, nếu như mùa xuân và mùa thu là 1 thì mùa hạ là 2 và mùa đông thì hạn chế ở mức thấp nhất.

yêu trong mùa xuân thế nào thì tốt

Từ xa xưa, cổ nhân đã nhận thức rất rõ ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động tính dục của con người và họ cho rằng mùa xuân với tiết trời ấm áp, cây cối tốt tươi, chim ca hoa nở chính là thời khoảng lý tưởng cho sinh hoạt tình dục. Y học hiện đại cũng cho rằng, sinh hoạt tình dục trong môi trường và điều kiện thuận lợi không những giúp cho tâm thể của cả nam và nữ thêm tráng kiện mà còn làm giảm thiểu các tật bệnh không mong muốn, nhất là các bệnh lý đường sinh dục. Khi nghiên cứu điều tra về tần số sinh hoạt tình dục và tỷ lệ mắc bệnh liệt dương, các nhà y học Trung Quốc đã phát hiện: mùa xuân và mùa hạ tần số hành phòng là tương đối cao nhưng tỷ lệ bị liệt dương lại thấp, trong khi đó vào mùa thu và mùa đông số lần sinh hoạt tình dục giảm thấp nhưng tỷ lệ bị liệt dương lại tăng cao.

Nên thụ thai vào tháng nào?

Theo các danh y, nếu chọn được thời điểm thụ thai tốt thì đứa trẻ sinh ra không những ít bệnh tật mà còn thông minh, nhanh nhẹn. Mặc dù còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, nhưng căn cứ vào kết quả nghiên cứu đã thu lượm được, không ít chuyên gia cho rằng tháng 4 hàng năm là thời gian thụ thai tốt nhất, bởi lẽ:

Tháng 4, tiết trời giữa xuân tràn đầy sức sống, hoạt lực của tinh trùng và trứng cũng sung mãn. Mặt trời chiếu chếch nên ảnh hưởng của bức xạ ion đối với trái đất cũng giảm thiểu, rất có lợi cho việc bảo vệ hoạt tính lý tưởng của tinh trùng và trứng cũng như sự phát triển khỏe mạnh của thai nhi.

Sau khi thụ thai 3 - 4 tháng, thời kỳ đại não và hệ thống thần kinh trung ương hình thành, lúc này là mùa thu, điều kiện rau cỏ, hoa trái rất phong phú và sung túc, thuận lợi cho việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cả người mẹ và thai nhi.

Tháng 4 thụ thai thì trong giai đoạn đầu và giữa của thai kỳ, sản phụ tránh được khá nhiều các bệnh lý truyền nhiễm của mùa đông xuân nên cũng hạn chế được tối đa những dị tật rủi ro cho thai nhi.

Thống kê cho thấy, trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học lỗi lạc và các danh nhân sinh ra vào thời điểm “thu mạt đông sơ” (cuối thu đầu đông), có nghĩa là được thụ thai vào khoảng tháng 4 hàng năm.

Cần kiêng kị gì?

Cần hết sức chú ý yếu tố tâm lý, tinh thần trong sinh hoạt tình dục, bởi lẽ mùa xuân phải luôn luôn nghĩ đến chữ “sinh”, “sinh để cho chí sinh”, “chí sinh” nghĩa là làm cho ý chí của mình phát sinh, đừng để cho tâm trạng bị uất ức, phải khoan dung, khoáng đạt, lạc quan vui vẻ, khiến cho tình ý được cởi mở, phải “giới nộ”, nghĩa là biết kiềm chế, chớ nổi giận. Mùa xuân ứng với can mộc, uất ức và giận dữ rất dễ làm thương tổn tạng can, can tổn thương sẽ làm phát sinh nhiều bệnh lý tình dục như di tinh, huyết tinh, xuất tinh sớm...

Không nên sinh hoạt tình dục trong những ngày lạnh lẽo hoặc trong điều kiện quá lạnh vì có thể mắc chứng liệt dương ở nam và lãnh đạm ở nữ.

Không nên “động phòng” khi đã uống quá nhiều rượu và ăn quá nhiều đồ ăn ngọt béo vì rượu là thứ đại nhiệt có thể gây rối loạn tình dục và chất lượng tinh trùng; thức ăn ngọt béo dễ sinh nhiệt, sinh đàm, “đàm có thể sinh ra trăm bệnh trên đời”.

Theo cổ nhân, giai đoạn cuối xuân đầu hạ, vào những ngày bắt đầu có mưa rào, sấm chớp thì không nên sinh hoạt tình dục và càng không nên thụ thai vì động phòng lúc này dễ làm cho huyết mạch bị rối loạn và nếu thụ thai thì đứa trẻ sinh ra thường ốm yếu, dễ mắc các chứng điên cuồng, thủy thũng...

Cuối cùng, mặc dù mùa xuân là mùa “liều lượng” phòng trung có thể tăng lên nhưng cũng không vì thế mà lạm dụng, phóng túng vô độ, bởi lẽ mọi sự “thái quá” đều có thể phát sinh “bất cập”.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Phản ứng của cơ thể khi quan hệ tình dục

ThS. Hoàng Khánh Toàn - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 02/02/2026

    Ăn gì để không bị mất cơ, giữ dáng săn chắc?

    Phát triển cơ bắp đã khó, duy trì và bảo toàn khối lượng cơ theo thời gian còn khó hơn trong hành trình xây dựng hình thể khỏe đẹp...

  • 02/02/2026

    Bí quyết giảm stress mùa sắm Tết và chuẩn bị cho năm mới

    Mùa Tết luôn mang đến không khí vui tươi, sum họp, nhưng đồng thời cũng là thời điểm tâm lý cuối năm dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực từ việc chuẩn bị. Từ việc mua sắm quà tặng, thực phẩm đến dọn dẹp nhà cửa, nhiều người cảm thấy lo âu và mệt mỏi, dẫn đến tình trạng stress kéo dài. Chính vì vậy, việc tìm kiếm những bí quyết giảm stress cho mùa Tết là điều cần thiết để mọi người có thể tận hưởng trọn vẹn không khí xuân an lành. Bài viết này sẽ khám phá các bí quyết khoa học để giảm stress mua sắm và chuẩn bị Tết, giúp bạn đón năm mới với tinh thần thoải mái và năng lượng tích cực.

  • 01/02/2026

    Chiến lược 15 ngày detox cơ thể đón Tết 2026

    Một cơ thể nhẹ nhàng, khỏe khoắn và tràn đầy năng lượng không đến từ việc nhịn ăn khắc nghiệt vài ngày, mà là kết quả của sự tái thiết lập có hệ thống các thói quen chuyển hóa.

  • 31/01/2026

    Uống trà xanh hay trà đen tốt cho sức khỏe hơn?

    Trà xanh và trà đen đều là nguyên liệu từ cây trà. Sự khác biệt chính nằm ở cách chế biến, hàm lượng caffeine và chất chống oxy hóa. Vậy loại nào tốt cho sức khỏe hơn?

  • 31/01/2026

    Thảo dược và tác dụng bảo vệ gan - Góc nhìn khoa học ứng dụng

    Gan là cơ quan chuyển hoá trung tâm của cơ thể, giữ vai trò then chốt trong chuyển hoá dinh dưỡng, tổng hợp protein, bài tiết mật và giải độc.

  • 31/01/2026

    Các vấn đề về tim mạch trong mùa đông

    Thời tiết lạnh có thể khiến bạn cảm thấy sảng khoái, nhưng bạn có biết nguy cơ đau tim tăng mạnh vào mùa đông khi nhiệt độ giảm không? Tim của bạn phải làm việc nhiều hơn khi trời lạnh, điều này khiến các cơn đau tim có dịp xuất hiện ở những người đã có sẵn vấn đề tim mạch. Không khí lạnh có thể gây ra những cơn đau ngực, tăng huyết áp và gây căng thẳng đột ngột cho hệ thống tim mạch của bạn vào mùa đông. Hãy cùng tìm hiểu với bài viết dưới đây để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề tim mạch trong mùa đông và cách phòng ngừa.

  • 30/01/2026

    Có nên ăn bánh mì để giảm cân?

    Bánh mì thường bị gắn mác là 'thủ phạm' gây tăng cân và là nguyên nhân gây ra các vấn đề về đường huyết. Tuy nhiên, bánh mì không hoàn toàn xấu mà nằm ở loại bánh mì bạn chọn và cách bạn tiêu thụ nó.

  • 30/01/2026

    “Hãy ăn thực phẩm thật” – sự thay đổi trong tư duy dinh dưỡng

    Ngày 07 tháng 01 năm 2026, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố Hướng dẫn Chế độ ăn uống giai đoạn 2025 – 2030 (gọi tắt là Hướng dẫn dinh dưỡng) trong bối cảnh sức khỏe của người dân Mỹ đang ở mức báo động: gần 50% người Mỹ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, 75% người trưởng thành mắc ít nhất 1 bệnh mãn tính và 90% chi phí y tế được dùng để điều trị các bệnh mãn tính.

Xem thêm