Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Viêm khớp dạng thấp: có thể bạn chưa biết

Viêm khớp dạng thấp là một trong số hơn 100 dạng bệnh viêm khớp như bệnh gout, viêm cột sống dính khớp, bệnh đa xơ cứng, lupus ban đỏ và rất nhiều bệnh khác. Mặc dù bệnh viêm khớp dạng thấp có rất nhiều điểm tương đồng với những căn bệnh trên nhưng vẫn có những đặc điểm để phân biệt viêm khớp dạng thấp với các bệnh khác.

Dưới đây là 10 điều có thể bạn chưa biết về viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn

Trong bệnh viêm khớp dạng thấp, hệ miễn dịch của bạn (là hệ cơ quan bình thường sẽ bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân lạ có thể gây hại như vi khuẩn và virus) sẽ tấn công các khớp và do vậy, bệnh được gọi là một dạng bệnh tự miễn. Tình trạng này gây viêm ở bên trong và xung quanh các khớp, khiến bạn bị sưng, đau và cứng, gây cản trở khả năng chuyển động thông thường của các khớp.

Khoảng 1.5 triệu người Mỹ bị viêm khớp dạng thấp

Ngoài việc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, viêm khớp dạng thấp có thể để lại những hậu quả lâu dài.

Số phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp cao hơn gấp 3 lần so với số nam giới

Nguyên nhân của sự khác biệt về giới này hiện chưa được biết rõ, nhưng hormone có thể sẽ đóng những vai trò nhất định. Bệnh viêm khớp dạng thấp có thể khởi phát vào bất cứ lứa tuổi nào (kể cả trẻ nhỏ cũng có thể bị viêm khớp dạng thấp – còn được gọi là viêm khớp dạng thấp vị thành niên hoặc viêm khớp dạng thấp vô căn vị thành niên), nhưng độ tuổi thường dễ mắc bệnh là phụ nữ trong khoảng từ 20 đến 60 tuổi. Nam giới cũng có thể bị bệnh, nhưng sẽ ở lứa tuổi muộn hơn một chút.

Viêm khớp dạng thấp khác với bệnh viêm xương khớp

Viêm xương khớp là dạng bệnh viêm khớp phổ biến nhất và là bệnh gây mòn tại một số khớp nhất định, trong khi viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến toàn cơ thể. Không giống như bệnh viêm xương khớp thường chỉ ảnh hưởng đến các khớp phải chịu sức nặng, như khớp gối và khớp hông, viêm khớp dạng thấp thường ảnh hưởng nhiều đến các khớp nhỏ, ví dụ như các khớp ở bàn tay, cổ tay và bàn chân.

Một sự khác biệt quan trọng nữa: viêm khớp dạng thấp thường xảy ra ở cả 2 bên của cơ thể, do vậy nếu một khớp ở một bên tay của bạn bị đỏ, nóng, sưng và đau, thì khớp tương tự ở tay phía bên kia cũng sẽ có những biểu hiện tương tự. Không giống như những người bị viêm xương khớp, những người bị viêm khớp dạng thấp có thể sẽ có biểu hiện mệt mỏi, thỉnh thoảng sốt và giảm năng lượng – theo như thông tin của Hiệp hội Quốc gia về Cơ xương khớp, Viêm khớp và các bệnh về da tại Anh.

Nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp hiện vẫn chưa rõ

Chưa một ai biết chính xác tại sao chức năng miễn dịch lại bị rối loạn ở những người bị viêm khớp dạng thấp, nhưng nguyên nhân được cho là do sự phối hợp của yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường. Có tiền sử gia đình mắc các bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp, lupus hoặc bệnh tự miễn về tuyến giáp sẽ làm tăng nguy cơ bị viêm khớp dạng thấp. Những yếu tố khác cũng đóng vai trò nhất định trong sự phát triển bệnh viêm khớp dạng thấp là hormone, béo phì, tiếp xúc với khói thuốc lá và nhiều yếu tố môi trường khác.

Chẩn đoán viêm khớp dạng thấp không dễ dàng

Chưa có một xét nghiệm phòng thí nghiệm hoặc chẩn đoán hình ảnh nào có thể chẩn đoán được chính xác bệnh viêm khớp dạng thấp. Thay vào đó, các bác sỹ thường tìm kiếm một số dấu hiệu và triệu chứng cụ thể trong quá trình thăm khám và sau khi xem xét tiền sử bệnh tật. Những dấu hiệu và triệu chứng này bao gồm thường xuyên bị đau khớp, căng cứng, sưng hoặc cứng khớp, cứng khớp vào buổi sáng kéo dài ít nhất 30 phút, và các triệu chứng đối xứng 2 bên (ví dụ như cả hai bàn tay hoặc 2 mắt cá chân đều bị ảnh hưởng).

Xét nghiệm máu phát hiện sự có mặt của các yếu tố gây viêm khớp dạng thấp (kháng thể) và các kháng thể kháng CCP thường được sử dụng để chẩn đoán xác định viêm khớp dạng thấp. Mặc dù vậy, đôi khi, kết quả xét nghiệm máu sẽ là âm tính nhưng các dấu hiệu và triệu chứng sẽ là dương tính, do vậy, bạn sẽ cần tiến hành chẩn đoán huyết thanh âm tính.

Viêm khớp dạng thấp được phát hiện càng sớm và được điều trị càng triệt để, tiên lượng càng tốt.

Bệnh càng được điều trị sớm, thì khả năng các khớp ngừng bị tổn thương càng cao. Và một điều quan trọng bạn cần nhớ, một ki các tổn thương tại khớp đã hình thành, thì không có cách nào có thể hồi phục được những tổn thương này cả. Mục tiêu hàng đầu của việc điều trị viêm khớp dạng thấp là ngừng tình trạng viêm, làm chậm quá trình tổn thương mà tình trạng viêm khớp dạng thấp gây ra và làm giảm tỷ lệ tiến triển bệnh.

Nhờ có sự hỗ trợ của các thuốc chống viêm khớp hạ giảm bệnh (DMARDs) và trị liệu sinh học, hiện nay, bệnh viêm khớp dạng thấp có thể được kiểm soát và có những đợt thuyên giảm ở khoảng 2/3 số người bị bệnh. Điều trị sớm và triệt để có thể sẽ thay đổi tiên lượng bệnh ở rất nhiều người. Ngoài việc thay đổi quá trình tiến triển của bệnh, những phương pháp điều trị ở trên có thể làm giảm nguy cơ phát triển biến chứng, ví dụ như các bệnh tim mạch hoặc u lympho.

Ngoài ra, rất nhiều người bị viêm khớp dạng thấp có thể sử dụng các thuốc chống viêm không chứa steroid (NSAIDs) hoặc sử dụng corticosteroid để giảm đau và cứng khớp.

Bị viêm khớp dạng thấp có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm xương khớp và bệnh loãng xương

Kể cả khi bệnh viêm khớp dạng thấp của bạn được kiểm soát, thì bạn vẫn có thể bị viêm xương khớp thoái hóa khớp thứ cấp tại các khớp thường phải chịu nhiều sức nặng, ví dụ nưh khớp gối, khớp hông và khớp mắt cá chân. Những tổn thương do viêm khớp dạng thấp gây ra với các khớp này sẽ phá vỡ sự toàn diện của các khớp, khiến các khớp này sẽ bị mòn hơn.

Ngoài ra, bị viêm khớp dạng thấp cũng sẽ làm tăng nguy cơ bị loãng xương của phụ nữ - một bệnh khiến xương giòn và dễ gãy hơn do giảm mật độ xương và mất các mô xương. Nguyên nhân là do tình trạng viêm sẽ làm nặng thêm tình trạng mất xương.

Viêm khớp dạng thấp có thể ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe từ đầu đến chân của bạn

Không giống như bệnh viêm xương khớp, tình trạng viêm mãn tính ngày càng tăng lên trong bệnh viêm khớp dạng thấp có thể gây ra các vấn đề khác, ngoài việc ảnh hưởng đến các khớp xương. Những vấn đề này bao gồm ảnh hưởng đến mắt, miệng, da, phổi và trái tim. Những người bị viêm khớp dạng thấp sẽ có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao hơn khoảng 1.5-2 lần.

Thêm vào đó, vì bệnh viêm khớp dạng thấp gây ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch, nên những người mắc phải bạng viêm khớp này sẽ có nguy cơ phát triển các bệnh nhiễm trùng cao hơn, ví dụ như bị viêm phổi, viêm đường tiết niệu và viêm xoang, cũng như sẽ có nguy cơ bị u lympho và các bệnh tự miễn khác cao hơn, ví dụ như hội chứng Sjogren. Các biến chứng khác của viêm khớp dạng thấp bao gồm hội chứng ống cổ tay và trầm cảm.

Lối sống năng động có thể bảo vệ các khớpl và làm giảm các cơn đau do viêm khớp dạng thấp

Trái với suy nghĩ thông thường, luyện tập thể thao không làm cho bệnh viêm khớp dạng thấp nặng hơn. Trên thực tế, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thường xuyên luyện tập thể thao – ví dụ như đi bộ, bơi lội và đạp xe – có thể bảo toàn được khả năng vận động của các khớp và có thể duy trì sức mạnh của cơ bắp, do đó, có thể làm giảm đau, cải thiện tâm trạng và giúp bạn kiểm soát cân nặng tốt hơn.

Kiểm soát cân nặng là một điều vô cùng quan trọng bởi thừa quá nhiều cân sẽ làm tăng áp lực lên các khớp ở chi dưới.

Ts.Bs.Trương Hồng Sơn - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Theo everydayhealth
Bình luận
Tin mới
  • 26/10/2026

    Phòng ngừa cảm cúm mùa khi giao mùa

    Thời điểm giao mùa, khi nhiệt độ và độ ẩm không khí thay đổi liên tục, là giai đoạn virus cúm hoạt động mạnh nhất trong năm. Đây cũng là lúc số ca mắc cúm mùa tại các cơ sở y tế tăng cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có bệnh nền.

  • 26/10/2026

    Phòng ngừa các bệnh tim mạch mùa lạnh: Lời khuyên vàng cho trái tim khỏe

    Mùa đông không chỉ mang lại cảm giác se lạnh mà còn tiềm ẩn những nguy cơ đối với sức khỏe tim mạch. Nhiệt độ giảm thấp có thể làm tăng huyết áp, gia tăng nguy cơ các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim hay đột quỵ. Bài viết này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh tim mạch, các dấu hiệu cảnh báo và những biện pháp phòng ngừa để giữ cho trái tim luôn khỏe mạnh.

  • 25/10/2026

    Ăn quả mọng mỗi ngày để thúc đẩy quá trình lão hóa lành mạnh

    Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!

  • 25/10/2026

    3 loại trái cây “ngậm” nhiều hóa chất nhất và cách xử lý trước khi ăn

    Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.

  • 24/10/2026

    Vắc xin EV71 giải pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng hiệu quả cho trẻ

    Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.

  • 24/10/2026

    Rối loạn kinh nguyệt ở người trẻ:

    Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.

  • 23/10/2026

    Tại sao ăn ít mà bụng vẫn to?

    Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.

  • 23/10/2026

    Phòng ngừa dị ứng thức ăn cho trẻ khi bắt đầu ăn dặm

    Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.

Xem thêm