Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Viêm gan virut C sát thủ thầm lặng

Viêm gan C là một bệnh nguy hiểm, theo ước tính có khoảng 30% người viêm gan C mạn tính có nguy cơ dẫn tới xơ gan cũng như ung thư gan…

Viêm gan C là một bệnh nguy hiểm, theo ước tính có khoảng 30% người viêm gan C mạn tính có nguy cơ dẫn tới xơ gan cũng như ung thư gan… đặc biệt nếu phối hợp thêm viêm gan siêu vi B. Đây là loại virut được giới chuyên môn xem là “sát thủ thầm lặng”. Ngoài yếu tố có nguy cơ dễ lây nhiễm cao, hầu hết người bị nhiễm loại virut này không biểu hiện gì ở giai đoạn đầu, có thể vài chục năm sau khi bệnh bùng phát hoặc gây biến chứng xơ gan, ung thư gan thì mới biết mắc bệnh. Hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh. Do đó, phòng ngừa vẫn là quan trọng nhất.

Bệnh lây truyền thế nào?

Viêm gan C là bệnh truyền nhiễm do Hepatitis C virut (HCV) gây nên, bệnh lây truyền từ người mang HCV sang cho người lành theo 3 con đường: đường máu, đường tình dục và mẹ truyền cho con qua nhau thai khi sinh. Tuy nhiên, chủ yếu theo đường máu (người nhận máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi C; dùng chung kim tiêm nhiễm siêu vi C; nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh phẩm có chứa HCV, một số nguyên nhân khác như châm cứu, bấm lỗ tai, xăm mình mà các dụng cụ hành nghề không tuyệt đối vô khuẩn). Ngoài ra, có một số bị nhiễm HCV nhưng không rõ nguyên nhân.

Điều gì xảy ra khi bị viêm gan C?

Khi mắc bệnh, virut viêm gan C đi từ máu đến gan và sinh sôi ở đó. Cùng lúc đó, cơ thể bạn bắt đầu chống lại nhiễm trùng. Viêm gan C được xem là “một bệnh thầm lặng”. Chỉ khoảng 1/3 người mắc bệnh có biểu hiện triệu chứng và những triệu chứng này thường nhẹ - nên bạn có thể không hề biết là mình đã mắc bệnh.

Xét nghiệm máu tầm soát viêm gan virut.

Viêm gan C cấp

Khoảng thời gian ngắn (thường là 6 tháng) sau khi nhiễm bệnh thường được gọi là giai đoạn cấp của bệnh. Bệnh nhân bị viêm gan C cấp hiếm khi có biểu hiện triệu chứng. Hầu hết các trường hợp viêm gan C cấp tính ít có triệu chứng đặc biệt, người bệnh thấy mệt mỏi, nhức đầu và có một số triệu chứng giống cảm cúm. Một số trường hợp có biểu hiện rối loạn tiêu hóa như đau bụng, chán ăn, đau tức vùng hạ sườn phải (vùng gan). Kèm theo đau có thể có hiện tượng vàng da, vàng mắt, nước tiểu tối màu như nước vối.

Đôi khi triệu chứng đau và vàng da, vàng mắt chỉ nhẹ làm cho người bệnh không để ý, dễ bỏ qua mặc dù gan vẫn đang trong thời kỳ viêm rất nặng. Đó là lý do tại sao viêm gan C thường được gọi là “yên lặng”... Trong thời gian này, một số bệnh nhân (khoảng 15-30%) có khả năng tự vượt qua “diệt sạch” virut mà không cần điều trị. Điều đáng tiếc là hầu hết bệnh nhân đều không tự diệt sạch được virut trong giai đoạn cấp. Bệnh sau đó chuyển sang giai đoạn mạn tính.

Viêm gan C mạn tính

Nếu virut vẫn tồn tại trong máu (và gan) trên 6 tháng sau khi nhiễm bệnh, bạn đã bị viêm gan C mạn tính. Cơ may khỏi bệnh rất hiếm nếu không điều trị. Ở giai đoạn này, có thể bắt đầu có những tổn thương nặng hơn cho gan. Bạn có thể thấy có triệu chứng của bệnh trong giai đoạn này.

Người bị viêm gan C mạn tính có thể thấy mệt mỏi,  khó tập trung, thấy ốm yếu, đau cơ hay đau khớp, thấy lo lắng hay chán nản. Hầu hết bệnh nhân đều không có triệu chứng và không cảm thấy bệnh. Việc không có triệu chứng có thể kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, virut vẫn tiếp tục sinh sôi nảy nở trong gan.

Chúng gây viêm gan và tăng nồng độ của nhiều men gan (AST và ALT) có thể đo được trong máu. Kết quả là tổn thương gan (gọi là xơ hóa) có thể lan rộng và dẫn đến xơ gan. Bệnh nhân bị viêm gan C có thời gian tiến triển bệnh khác nhau và không thể dự đoán được chính xác. Nhiều bệnh nhân chỉ bị thay đổi ít sau 20-30 năm, trong khi nhiều người bị xơ gan sau 10 năm hay ngắn hơn.

Nguy hiểm hơn viêm gan virut B

Tỷ lệ người bệnh viêm gan C tự khỏi chỉ chiếm khoảng 15 - 30% các trường hợp (thấp hơn nhiều lần so với viêm gan B là 90%). Số còn lại hoặc sẽ trở thành viêm gan C mạn tính hoặc trở thành người lành mang virut viêm gan C.

Tương tự viêm gan C mạn tính cũng chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với viêm gan B (viêm gan C có tỷ lệ khoảng từ 30 - 60%, trong khi đó tỷ lệ này của viêm gan B  chỉ là 10%). Ðặc điểm nổi bật của bệnh viêm gan C mạn tính là sự tiến triển rất thầm lặng qua 10 - 30 năm, vì thế, người bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Điều đáng lo ngại nhất là khi bị viêm gan C mạn tính, người bệnh sẽ phải đối mặt với 3 biến chứng rất nguy hiểm là xơ gan, ung thư gan và suy gan. Trong khi đó, bệnh lại diễn ra âm thầm, không có triệu chứng gì cho đến khi nó gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho gan.

Các phương pháp điều trị hiện đại

Tuy có nhiều biến chứng nguy hiểm nhưng viêm gan C có thể chữa được nếu phát hiện sớm, điều trị đúng thuốc và đúng cách. Phương pháp điều trị phổ biến hiện nay là thuốc ức chế virut kết hợp với interferon thế hệ mới. Có 2 loại thuốc được chấp thuận để điều trị viêm gan C mạn: interferon và ribavirin, tuỳ theo tình trạng sức khoẻ của bạn, bác sĩ sẽ có chỉ định cụ thể. Ngoài ra, điều trị hỗ trợ nâng đỡ cơ thể luôn cần thiết, gồm có: nghỉ ngơi, dinh dưỡng hợp lý cung cấp năng lượng và sức đề kháng cho cơ thể sẽ giúp cho bệnh nhanh hồi phục, tránh các yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến gan như rượu bia, thuốc lá...

Lời khuyên của thầy thuốc

Hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh. Xét nghiệm máu được xem là việc làm cần thiết giúp phát hiện sớm viêm gan do virut C. Biện pháp rẻ nhất, hiệu quả nhất để chống lại bệnh này là phòng ngừa: Nói không với tiêm chích ma túy; nói không với tình dục bừa bãi và thực hiện truyền máu an toàn. Ðối với người bị viêm gan C mạn tính, nên kiểm tra anpha FP trong máu (anpha feto protein) nhằm phát hiện ung thư gan sớm.

Ðây là một loại protein xuất hiện trong máu người bệnh ung thư gan khi vượt quá chỉ số cho phép. Cần thực hiện tái khám định kỳ theo hẹn của bác sĩ. Người bệnh tuyệt đối không uống bia rượu.

BS. Trần Quang Nhật - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 03/04/2025

    Đẻ mắc vai hay dấu hiệu “con rùa” trong sản khoa

    Đẻ mắc vai hay còn gọi là dấu hiệu “con rùa” - là tình trạng xảy ra khi một hoặc cả hai vai của em bé bị kẹt trong quá trình sinh thường. Không có dấu hiệu báo trước và không có cách nào để ngăn ngừa tình trạng này xảy ra. Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể bao gồm việc em bé quá lớn, xương chậu của mẹ nhỏ hoặc đỡ đẻ sai tư thế. Tình trạng này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng bao gồm cả chấn thương thần kinh cho em bé. Cùng đọc bài viết sau để hiểu thêm về tình trạng này!

  • 02/04/2025

    Nâng cao tầm vóc Việt

    Tầm vóc không chỉ là thước đo chiều cao đơn thuần mà còn phản ánh sức khỏe và sự phát triển toàn diện của một dân tộc. Tuy nhiên, thực trạng chiều cao của người Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế so với bạn bè quốc tế

  • 01/04/2025

    Tăng cường miễn dịch cho trẻ mùa xuân

    Mùa xuân đến, mang theo không khí ấm áp và sức sống mới cho vạn vật. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm giao mùa, khí hậu biến đổi thất thường, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, virus và mầm bệnh sinh sôi phát triển.

  • 01/04/2025

    Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ: Hiểu đúng và đồng hành cùng người tự kỷ

    Ngày 2 tháng 4 hàng năm, thế giới cùng hướng về Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ – một sự kiện do Liên Hợp Quốc khởi xướng nhằm kêu gọi sự quan tâm sâu sắc hơn đến rối loạn phổ tự kỷ (ASD).

  • 31/03/2025

    Chăm sóc da cho bé vào mùa xuân: Mẹo nhỏ cho mẹ

    Mùa xuân là thời điểm giao mùa, khí hậu thất thường, hanh khô, độ ẩm thấp, dễ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến làn da nhạy cảm của trẻ nhỏ.

  • 30/03/2025

    Những thay đổi về làn da tuổi mãn kinh

    Tuổi mãn kinh không chỉ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe sinh lý nữ, mà còn ảnh hưởng đến làn da. Chị em phụ nữ nên lưu ý điều gì khi chăm sóc da tuổi ngoài 40?

  • 30/03/2025

    Người cao tuổi và bệnh giao mùa

    Giao mùa là thời điểm chuyển tiếp giữa các mùa trong năm, kéo theo sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Đối với người cao tuổi, giai đoạn này thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe do hệ miễn dịch suy giảm và cơ thể dần lão hóa.

  • 29/03/2025

    Đi bộ nhanh mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong

    Một nghiên cứu mới cho thấy, hoạt động thể chất vừa phải như đi bộ nhanh, yoga, làm vườn… mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong.

Xem thêm