KỲ II: CÁC XÉT NGHIỆM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA
Những trường hợp điều trị cho kết quả tốt là những trường hợp bệnh được phát hiện sớm, những khối u phổi kích thước còn nhỏ ở giai đoạn I hoặc II. Còn những bệnh nhân khối u đã quá to, xâm lấn và di căn xa ở giai đoạn III và IV, kết quả điều trị rất là hạn chế, tiên lượng chỉ còn tính bằng tháng, thậm chí bằng ngày.
Những xét nghiệm cần làm
X-quang phổi: thông thường là hình ảnh của một khối u xuất phát từ vùng rốn phổi hoặc ngoại vi là dấu hiệu đặc trưng của carcinoma phổi. Ở một số bệnh nhân khác có thể thấy hình ảnh thâm nhiễm của phổi có hoặc không hình ảnh tạo hang. Hình ảnh tràn dịch màng phổi. Hình ảnh cơ hoành bị dâng lên cao trong tình trạng liệt thần kinh hoành. Hình ảnh tổn thương của xương sườn hoặc các xương dài do di căn. Có thể thấy hình ảnh xẹp phổi trong trường hợp có tắc nghẽn của các phế quản. Một dạng tổn thương khác là thấy hình ảnh khối u ở ngoại vi với bờ mềm mại, góc nhọn. Phần lớn các trường hợp bệnh nhân hoàn toàn không có triệu chứng gì cả và hình ảnh khối mờ trên phim X-quang là triệu chứng đầu tiên được phát hiện trên phim chụp kiểm tra thường quy. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp không có cả triệu chứng X-quang. Trong vòng 10 năm tại bệnh viện May đã có 54 bệnh nhân bị ung thư phổi mà hoàn toàn không hề có một biến đổi nào trên phim X-quang. Một kỹ thuật X-quang khác có thể được dùng: kỹ thuật X-quang chủ động còn gọi là kỹ thuật quét nhằm tìm kiếm bằng chứng di căn ở gan, não, xương.
X-quang phổi
Chụp X-quang cắt lớp bằng vi tính: kỹ thuật này rất hữu ích trong việc xác định độ xâm lấn của khối u, cũng như đánh giá mức độ di căn ở các cơ quan khác như: tuyến thượng thận. Ngoài ra nó còn được sử dụng đế phân loại giai đoạn của ung thư. Với thế hệ thứ III của máy CT có thể phát hiện những hạch nhỏ của vùng trung thất mà không cần đến kỹ thuật nội soi trung thất.
Sinh thiết và nghiên cứu về tế bào học: có thể tìm tế bào học qua đàm, qua soi phế quản, qua sinh thiết phế quản, chải rửa và phế quản. Với những kỹ thuật này cho phép định danh tế bào học trong 90 - 95% các trường hợp. Tuy nhiên, với các khối u ở ngoại vi việc chẩn đoán xác định chỉ vào khoảng 60%.
Sinh thiết xuyên thành ngực bằng kim: với việc vô cảm tại chỗ, việc sủ dụng kim để sinh thiết xuyên thành ngực có thể giúp ích cho chẩn đoán những trường hợp ung thư phổi và những sang thương khác không thể chẩn đoán xác định được bằng nội soi phế quản. Tác giả Sagel năm 1978 trong nhóm nghiên cứu với 896 bệnh nhân đã chẩn đoán xác định về mặt tế bào học trong 96% các trường hợp.
Nội soi trung thất: dùng một đường rạch nhỏ nơi hõm ức trên và đưa máy soi vào dọc theo mặt trước của khí quản. Thông thường những tổn thương của phế quản gần hay cho di căn vùng trung thất và các tổn thương vùng ngoại vi ít khi cho di căn trung thất trong giai đoạn sớm. Một số phẫu thuật viên thích dùng đường mổ ngắn phía trước hoặc bên để nội soi trung thất vì qua đường này có thể quan sát cả vùng rốn phổi. Hơn thế nữa với đường này, có thể mở lớn ra để cắt phổi nếu khối u còn khả năng cắt được. Một số trường hợp, nội soi trung thất có thể có biến chứng chảy máu nhiều khi đặt ống soi hoặc sinh thiết, chính vì vậy với đường mổ này cho phép kiểm soát và cấm máu khi có biến chứng.
Mở ngực thám sát: trong một số trường hợp, việc mở ngực để thám sát cũng được đặt ra khi có tràn dịch màng phổi mà không tìm thấy tế bào ác tính. Màng phổi thành, màng phổi tạng, cơ hoành, màng ngoài tim được quan sát kỹ với nội soi trung thất bằng ống mềm qua đường mở ngực nhỏ.
Chọc dò và sinh thiết tủy xương: giúp cho chẩn đoán tế bào học trong một số trường hợp ung thư phổi, đặc biệt là ung thư biểu mô dạng tế bào lúa mạch. Tuy nhiênviệc phát hiện di căn xương bằng kỹ thuật này thường thấp.
X-quang cắt lớp bằng vi tính
Điều trị ngoại khoa
Không thể phẫu thuật được cho bệnh nhân khi thấy có các dấu hiệu: di căn xa, tràn dịch màng phổi, hội chứng Horners, liệt dây thanh âm, liệt dây thần kinh hoành, hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên. Khi có các chống chỉ định phẫu thuật trên, bệnh nhân có thể được chỉ định điều trị tiếp tục bằng hóa trị và xạ trị.
Có vào khoảng một nửa bệnh nhân bị ung thư biểu mô của phổi khi đến bệnh viện đã có di căn xa. Do đó cũng chỉ có khoảng một nửa bệnh nhân mổ được. Trong số đó lại có 1/2 số bệnh nhân trong thời gian chuẩn bị mổ đã có di căn vào thành ngực làm cho số lượng bệnh nhân ung thư phổi có thể điều trị được bằng phẫu thuật giảm xuống. Trong số những bệnh nhân, nếu chưa có bằng chứng cụ thể của di căn xa hoặc ăn lan ra ngoài cấu trúc của phổi cũng được chỉ định phẫu thuật thăm dò. Trước khi mổ cần tìm các di căn xa như: não, xương, gan, hạch di căn, tuyến thượng thận… bằng CT-scan và các xét nghiệm sinh học.
Trong kỹ thuật cắt phổi, việc sử dụng máy khâu phổi để đóng mỏm cắt phế quản rất quan trọng, với cách khâu này ít khi thấy có dò phế quản sau mổ. Kinh nghiệm cũng cho thấy rằng việc khâu phế quản bằng kẹp kim loại tốt hơn là khâu bằng chỉ. Trước khi cắt phế quản bằng máy cần phải phẫu tích và cột hết các động mạch và tĩnh mạch đi vào phổi. Trong phần lớn các trường hợp cắt thùy phổi hoặc cắt phổi không điển hình, một hoặc hai ống dẫn lưu được đặt vào xoang màng phổi để dẫn lưu máu, dịch và khí là điều bắt buộc.
SKĐS - Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương vừa ký ban hành Thông tư số 52/2025/TT-BYT quy định danh mục bệnh truyền nhiễm, đối tượng và phạm vi phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.
Uống trà không phải là giải pháp giảm cân nhanh chóng nhưng nếu biết chọn loại trà và sử dụng đúng cách có thể hỗ trợ giảm cân, giảm mỡ bụng theo thời gian.
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.