Tuyến tụy, insulin và đường glucose máu
Tụy nằm dưới dạ dày, cạnh tá tràng, sát thành sau của ổ bụng. Tụy gồm có ba phần: đầu, thân và đuôi. Đầu tụy nằm sát tá tràng và đuôi tụy kéo dài đến sát lá lách.
Tụy có hai chức năng: (1) ngoại tiết chế tiết vào hệ tiêu hóa các enzyme tiêu hóa như amylase, chymotrypsin, trypsin, lipase và (2) nội tiết chế tiết vào máu các hóc môn. Tụy có từ 1-2 triệu đảo Langerhans, đây là những quần thể tế bào nội tiết: tế bào alpha tiết ra hóc môn glucagon làm tăng đường máu và tế bào beta tiết ra insulin làm giảm đường máu.
Thường nồng độ insulin và glucose máu tỷ lệ với nhau: glucose máu tăng thì insulin máu cũng tăng và ngược lại khi glucose máu giảm thì mức độ chế tiết insulin cũng giảm tương ứng. Rối loạn cân bằng này sẽ gây ra bệnh như Đái tháo đường khi cơ thể thiếu insulin và Hạ đường huyết kéo dài gặp trong u tiết insulin (insulinoma).
U tế bào beta, insulinoma
U tế bào tiết insulin (insulinoma, islet cell adenoma, nesidioblastosis) là khối u của tế bào beta tuyến tụy, tế bào đảm trách chế tiết hóc môn insulin. Đây là một dạng u thần kinh nội tiết hiếm (neuroendocrine tumor), tỷ lệ mắc ước tính từ 1-4 ca mới/ triệu người/ năm. Đến 99% insulinoma nguyên phát từ tế bào đảo Langerhans, khoảng 5% các trường hợp insulinoma có liên quan đến u tuyến cận giáp và tuyến yên. Kích thước của insulinoma thường là nhỏ, dưới 2 cm.
Nếu u phát triển sớm ngay tuổi nhũ nhi trẻ sẽ bị hạ đường huyết kéo dài ở nhũ nhi (Persistent hyperinsulinemic hypoglycemia of infancy, PHHI). Đây là một bệnh lý nội tiết rất nặng, nếu không được xử lý đúng, kịp thời những cơn hạ đường huyết kéo dài này sẽ làm tổn thương vĩnh viễn, không hồi phục hệ thần kinh trung ương và gây ra di chứng tâm thần kinh nặng và tàn phế đứa trẻ sau này. Phương pháp điều trị chính thống còn nhiều tranh cãi, nói chung hiện nay vẫn thiên về hướng cắt bỏ bán phần hay toàn bộ tuyến tụy, chấp nhận bị đái tháo đường thể 1 (đái tháo đường lệ thuộc insulin, IDDM) và dùng insulin thay thế.
Cũng may, khoảng 90-95% trường hợp u insulin là lành tính và phương pháp điều trị chọn lựa là phẫu thuật cắt bỏ hay bóc tách khối u.
Dấu hiệu nhận biết và xét nghiệm xác định
Bệnh nhân có u insulin thường có các dấu hiệu thần kinh do hạ glucose máu (neuroglycopenic signs) như : đau đầu dai dẳng, không tập trung, nhìn đôi và mờ mắt, vã mồ hôi, đánh trống ngực, co giật, lú lẫn, hôn mê…
Để xác định u insulin cần làm các xét nghiệm glucose, insulin, C-peptide.. Đặc biệt dùng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như Siêu âm, CT scan, MRI, Chụp động mạch qua da…
Điều trị u insulin
* Với trẻ sơ sinh và nhũ nhi
U insulin ở các trẻ này là nguyên nhân gây hạ đường huyết kéo dài (PHHI) với những di chứng rất nặng nề về thần kinh. Dù chưa thống nhất một phác đồ, mà đang còn nhiều tranh luận, bàn cãi và cũng là thách đố với các nhà nội tiết nhi khoa, nhưng đa số thiên về hướng cắt tụy bán phần hoặc gần toàn phần (97%) để kiểm soát tốt sự hạ đường máu tránh nguy cơ tổn thương hệ thần kinh trung ương (não bộ) đứa bé, chấp nhận sau đó điều trị như một trường hợp đái tháo đường thể 1 (IDDM).
* Với trẻ lớn và người trưởng thành
Dù nguy hiểm, nhưng thường lành tính nên thường được phẫu thuật cắt bỏ khối u sau khi chăm sóc tích cực nội khoa bằng các thuốc như Diazoxide để giảm tiết insulin, Hydrochlorothiazide để giảm phù và tăng kali máu và Octreotide để ngăn ngừa hạ đường huyết.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.