Sữa tươi có thể là một phần dinh dưỡng của chế độ ăn uống lành mạnh cho trẻ em. Đây là một nguồn cung cấp protein, chất béo, kali, vitamin D và canxi tuyệt vời cho những trẻ không bị dị ứng protein sữa hoặc không dung nạp đường lactose.
1. Khi nào cho trẻ uống sữa tươi?
Theo các bác sĩ, chỉ nên cho trẻ uống sữa tươi khi trẻ đã hơn 1 tuổi. Do sữa tươi có hàm lượng đạm, canxi và phốtpho cao, nếu cho trẻ dưới 1 tuổi uống sẽ dễ có nguy cơ khiến thận bị quá tải và về lâu dài, làm trẻ có nguy cơ bị tăng huyết áp, béo phì ở tuổi trưởng thành. Ngoài ra, lượng đạm cao trong sữa gây đầy bụng, khó tiêu, chán ăn. Sữa tươi có hàm lượng sắt và vi chất dinh dưỡng ít không đủ đáp ứng nhu cầu của trẻ dưới 1 tuổi.
Tùy vào lứa tuổi mà trẻ có nhu cầu cơ bản khác nhau về năng lượng và các chất dinh dưỡng. Ví dụ, trẻ dưới 6 tháng chủ yếu nhận nguồn dinh dưỡng từ sữa, ưu tiên dùng hoàn toàn sữa mẹ. Khi trẻ bắt đầu ăn dặm, ngoài sữa, trẻ còn nhận thêm chất dinh dưỡng từ các bữa ăn.
![]()
Sữa tươi là nguồn dinh dưỡng dồi dào giúp trẻ phát triển, đặc biệt là về chiều cao và cân nặng.
Theo Thạc sĩ, Bác sĩ Lê Trịnh Thủy Tiên (Hội Dinh dưỡng Lâm sàng TP. Hồ Chí Minh), ngoài các bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng hàng ngày, nên cho trẻ uống thêm sữa như sau:
Trẻ từ 1-2 tuổi, uống khoảng 2 ly sữa tươi/ngày, tương đương với khoảng 200-300ml sữa. Nên cho trẻ uống xen kẽ những loại sữa công thức (dạng bột pha hay dạng pha sẵn) vì đã được bổ sung sắt, kẽm, vi chất… cần thiết cho nhu cầu phát triển của trẻ theo các lứa tuổi.
Trẻ từ 2-3 tuổi cần khoảng 300-400 ml sữa mỗi ngày.
Trẻ từ 4-8 tuổi sẽ có nhu cầu canxi cao hơn, nên cho trẻ uống khoảng 600ml sữa mỗi ngày.
Còn khi trẻ chuẩn bị bước vào độ tuổi 9 - 13 thì cần được quan tâm nhiều về chế độ dinh dưỡng để đạt được sự phát triển về thể chất cũng như tâm lý hành vi, nhận thức.
Theo các nghiên cứu, sữa được cơ thể hấp thu tốt nhất vào khoảng thời gian cách bữa ăn chính khoảng 1-2 giờ và khoảng 2 giờ trước khi đi ngủ. Phụ huynh có thể cho bé uống sữa sau bữa ăn sáng, lúc 16h hoặc trước khi đi ngủ 2 giờ.
Tuy nhiên, không nên cho trẻ uống sữa lúc bụng đói vì sẽ làm loãng dịch dạ dày, không tốt cho việc tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Không nên cho trẻ uống chung sữa với các loại nước trái cây chua vì khi gặp các axít có trong nước trái cây như cam, canh, kiwi... sẽ dẫn đến phản ứng kết tủa, làm mất tác dụng của protein trong sữa.
2. Những ảnh hưởng đến sức khỏe khi trẻ uống quá nhiều sữa
Mặc dù sữa là thức uống bổ dưỡng cho trẻ mới biết đi, nhưng tiêu thụ quá nhiều có thể không tốt cho sức khỏe. Dưới đây là những rủi ro chính của việc uống quá nhiều.
Táo bón
Một vấn đề phổ biến xảy ra khi trẻ uống quá nhiều sữa là táo bón. Vì sữa làm no nhưng không chứa chất xơ nên trẻ có thể bị táo bón do uống quá nhiều sữa và ăn ít thức ăn có chứa chất xơ. Điều này có thể là một vấn đề đối với trẻ mới biết đi uống hơn 600ml sữa mỗi ngày.
Thói quen ăn uống kém
Một mối quan tâm khác với trẻ mới biết đi uống quá nhiều sữa là lượng calo nạp vào cơ thể. Vấn đề này càng gia tăng nếu trẻ tiếp tục uống sữa nguyên kem trong độ tuổi. Lượng calo tăng thêm này thường khiến trẻ no và không muốn ăn các thức ăn bổ dưỡng khác, hoặc nếu trẻ vẫn ăn uống tốt, thì lượng calo dư thừa có thể dẫn đến tăng cân.
Thiếu máu do thiếu sắt
Trẻ mới biết đi uống quá nhiều sữa cũng có nguy cơ bị thiếu máu do thiếu sắt. Điều này là do sữa chỉ chứa một lượng vi lượng sắt và không thể thay thế các thực phẩm giàu chất sắt trong chế độ ăn. Nếu thiếu máu nghiêm trọng, có thể phải bổ sung sắt.
Sắt là một khoáng chất quan trọng được đưa vào từ chế độ ăn uống mà cơ thể chúng ta sử dụng để tạo ra hemoglobin, một loại protein trong tế bào hồng cầu giúp cung cấp ôxy đến các mô khác nhau trong cơ thể. Thiếu máu do thiếu sắt xảy ra khi cơ thể có lượng hemoglobin thấp trong cơ thể do không đủ sắt.
Các triệu chứng phổ biến của thiếu máu do thiếu sắt bao gồm da xanh xao, thiếu năng lượng và khó thở sau khi hoạt động.
Mất protein từ ruột
Mất protein từ ruột, hay bệnh ruột mất protein, xảy ra khi trẻ uống quá nhiều sữa, khiến lượng protein trong máu thấp. Điều này có thể khiến các mạch máu rò rỉ chất lỏng vào mô dẫn đến phù chân, lưng và mặt, làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.
Các triệu chứng của bệnh ruột mất protein bao gồm: Sưng bàn chân, chân và mặt; Chuột rút hoặc yếu cơ; Tràn dịch màng phổi...
Uống quá nhiều sữa có thể gây béo phì
![]()
Uống quá nhiều sữa có thể gây tăng cân, béo phì.
Nếu một đứa trẻ uống 900-1.400ml sữa nguyên chất mỗi ngày, chúng sẽ nhận được khoảng 600 đến 900 calo chỉ từ sữa. Con số này bằng 50-55% trong số 1.300 calo ước tính mà trẻ mới biết đi cần mỗi ngày, khiến trẻ dễ hấp thụ quá nhiều calo.
Nếu con bạn cũng uống nhiều nước trái cây, chúng có thể nhận được gần như tất cả lượng calo chúng cần từ sữa và nước trái cây. Một chế độ ăn chủ yếu bao gồm sữa và nước trái cây không cung cấp sự kết hợp thích hợp của chất béo, protein, carbohydrate, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển khỏe mạnh.
3. Làm thế nào để giảm tiêu thụ sữa?
Khi trẻ ăn uống tốt và không có vấn đề về táo bón, thiếu máu, hoặc tăng cân quá mức, như đã nói ở trên, thì việc uống sữa của trẻ là điều lành mạnh.
Tuy nhiên, nếu bạn lo lắng rằng con bạn đang uống quá nhiều sữa hoặc nếu chúng có nguy cơ mắc bất kỳ vấn đề nào ở trên, thì bạn có thể giảm mức tiêu thụ sữa của trẻ như sau:
Giảm dần lượng sữa: Một cách đơn giản để cắt giảm lượng sữa của trẻ là không cho trẻ uống đầy cốc. Bạn cũng có thể cung cấp nước thay thế.
Làm mẫu cho những hành vi lành mạnh: Con trẻ quan sát và học hỏi từ những hành vi của người lớn. Nếu bạn thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh và hạn chế uống sữa của chính mình (và không lạm dụng đồ uống kém lành mạnh hơn như nước trái cây hoặc nước ngọt), con bạn sẽ có nhiều khả năng làm như vậy.
Cung cấp nhiều bữa ăn chính và đồ ăn nhẹ lành mạnh khác nhau: Phục vụ các lựa chọn thực phẩm bổ dưỡng khác có thể khuyến khích con bạn chọn ăn nhiều calo hơn là uống chúng.
Chuyển sang sữa ít béo hơn: Cho trẻ uống sữa ít béo hoặc không béo có thể làm giảm lượng chất béo và calo của con bạn ngay cả khi trẻ tiếp tục uống nhiều sữa hơn mức lý tưởng.
Nói chuyện với bác sĩ về chứng không thích thức ăn : Yêu cầu trợ giúp thêm nếu con bạn dường như không ăn thức ăn có kết cấu, vì chúng có thể có ác cảm với thức ăn.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Không nên cho trẻ uống sữa thay ăn.
Từng là bí kíp để giúp giò chả, bánh đúc hay bún trở nên ngon miệng, hương vị hấp dẫn hơn, nhưng hiện nay hàn the đã bị Bộ Y tế liệt vào danh sách cực độc và cấm sử dụng trong thực phẩm. Tại sao một hoạt chất có vẻ "tiện lợi" này lại trở thành kẻ thù của sức khỏe cộng đồng? Trong bài viết này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ cung cấp thông tin giúp bạn có cái nhìn tổng quan về loại chất cấm này.
Ô nhiễm không khí và thời tiết lạnh khiến số ca nghẹt mũi, đau họng, ho, cảm lạnh gia tăng. Xông hơi bằng thảo dược tự nhiên là giải pháp đơn giản giúp thông xoang, làm dịu cổ họng và hỗ trợ đường hô hấp.
Táo giàu vitamin và chất xơ có lợi cho tiêu hóa. Có thể ăn táo vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày nhưng nếu mục đích ăn táo để giảm cân, hãy tham khảo 3 thời điểm hiệu quả nhất.
Hút thuốc lá từ lâu đã trở thành thói quen khó bỏ đối với hàng triệu người trên thế giới, đặc biệt là những người đã duy trì thói quen này qua nhiều năm. Tại Việt Nam, theo thống kê từ Bộ Y tế, tỷ lệ hút thuốc trong nam giới trưởng thành tuy có giảm từ 47,4% năm 2010 xuống còn 38,9% năm 2023, nhưng con số này vẫn cho thấy một thách thức lớn.
Cá khô là nguồn cung cấp protein, omega-3 và khoáng chất cô đặc. Nếu lựa chọn loại ít muối, cá khô có thể thay thế đồ tươi hiệu quả. Tham khảo danh sách 5 loại cá khô tốt nhất cho sức khỏe.
Nhiễm trùng bàng quang là một loại nhiễm trùng đường tiết niệu phát triển ở bàng quang, cơ quan rỗng chứa nước tiểu. Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể phát triển ở bất kỳ vị trí nào trong hệ tiết niệu, bao gồm thận, niệu quản, bàng quang hoặc niệu đạo.
Rau bina hay còn gọi là cải bó xôi, rau chân vịt luôn đứng đầu danh sách các loại rau lá xanh giàu dinh dưỡng nhất, chứa đựng nhiều vitamin, khoáng chất và các hợp chất sinh học, giúp bảo vệ cơ thể ngăn ngừa nhiều bệnh mạn tính.
Vùng da cổ và ngực thường rất mỏng manh và hay bị bỏ quên trong quy trình chăm sóc da. Ở phụ nữ, vùng da này đặc biệt dễ bị lão hóa và tổn thương do ánh nắng mặt trời do tiếp xúc nhiều với tia cực tím (UV).Bài viết này thảo luận về tổn thương da ở vùng da cổ, đưa ra lời khuyên về các sản phẩm và quy trình điều trị nếp nhăn , tình trạng đổi màu, đốm nắng và các vấn đề khác.