Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Trẻ uống quá nhiều sữa tươi và những hệ lụy với sức khỏe

Sữa tươi là nguồn dinh dưỡng dồi dào giúp trẻ phát triển, đặc biệt là về chiều cao và cân nặng. Sữa tươi chứa nhiều canxi, phốt pho, vitamin A và D có lợi cho cơ, xương và răng; chất béo tốt cho trí não của trẻ… Tuy nhiên, nếu cho trẻ uống sữa tươi không đúng cách, sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của trẻ.

Sữa tươi có thể là một phần dinh dưỡng của chế độ ăn uống lành mạnh cho trẻ em. Đây là một nguồn cung cấp protein, chất béo, kali, vitamin D và canxi tuyệt vời cho những trẻ không bị dị ứng protein sữa hoặc không dung nạp đường lactose.

1. Khi nào cho trẻ uống sữa tươi?

Theo các bác sĩ, chỉ nên cho trẻ uống sữa tươi khi trẻ đã hơn 1 tuổi. Do sữa tươi có hàm lượng đạm, canxi và phốtpho cao, nếu cho trẻ dưới 1 tuổi uống sẽ dễ có nguy cơ khiến thận bị quá tải và về lâu dài, làm trẻ có nguy cơ bị tăng huyết áp, béo phì ở tuổi trưởng thành. Ngoài ra, lượng đạm cao trong sữa gây đầy bụng, khó tiêu, chán ăn. Sữa tươi có hàm lượng sắt và vi chất dinh dưỡng ít không đủ đáp ứng nhu cầu của trẻ dưới 1 tuổi.

Tùy vào lứa tuổi mà trẻ có nhu cầu cơ bản khác nhau về năng lượng và các chất dinh dưỡng. Ví dụ, trẻ dưới 6 tháng chủ yếu nhận nguồn dinh dưỡng từ sữa, ưu tiên dùng hoàn toàn sữa mẹ. Khi trẻ bắt đầu ăn dặm, ngoài sữa, trẻ còn nhận thêm chất dinh dưỡng từ các bữa ăn.

Trẻ uống quá nhiều sữa tươi và những hệ lụy với sức khỏe - Ảnh 2.

Sữa tươi là nguồn dinh dưỡng dồi dào giúp trẻ phát triển, đặc biệt là về chiều cao và cân nặng.

Theo Thạc sĩ, Bác sĩ Lê Trịnh Thủy Tiên (Hội Dinh dưỡng Lâm sàng TP. Hồ Chí Minh), ngoài các bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng hàng ngày, nên cho trẻ uống thêm sữa như sau:

  • Trẻ từ 1-2 tuổi, uống khoảng 2 ly sữa tươi/ngày, tương đương với khoảng 200-300ml sữa. Nên cho trẻ uống xen kẽ những loại sữa công thức (dạng bột pha hay dạng pha sẵn) vì đã được bổ sung sắt, kẽm, vi chất… cần thiết cho nhu cầu phát triển của trẻ theo các lứa tuổi.

  • Trẻ từ 2-3 tuổi cần khoảng 300-400 ml sữa mỗi ngày.

  • Trẻ từ 4-8 tuổi sẽ có nhu cầu canxi cao hơn, nên cho trẻ uống khoảng 600ml sữa mỗi ngày.

  • Còn khi trẻ chuẩn bị bước vào độ tuổi 9 - 13 thì cần được quan tâm nhiều về chế độ dinh dưỡng để đạt được sự phát triển về thể chất cũng như tâm lý hành vi, nhận thức.

Theo các nghiên cứu, sữa được cơ thể hấp thu tốt nhất vào khoảng thời gian cách bữa ăn chính khoảng 1-2 giờ và khoảng 2 giờ trước khi đi ngủ. Phụ huynh có thể cho bé uống sữa sau bữa ăn sáng, lúc 16h hoặc trước khi đi ngủ 2 giờ.

Tuy nhiên, không nên cho trẻ uống sữa lúc bụng đói vì sẽ làm loãng dịch dạ dày, không tốt cho việc tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Không nên cho trẻ uống chung sữa với các loại nước trái cây chua vì khi gặp các axít có trong nước trái cây như cam, canh, kiwi... sẽ dẫn đến phản ứng kết tủa, làm mất tác dụng của protein trong sữa.

2. Những ảnh hưởng đến sức khỏe khi trẻ uống quá nhiều sữa

Mặc dù sữa là thức uống bổ dưỡng cho trẻ mới biết đi, nhưng tiêu thụ quá nhiều có thể không tốt cho sức khỏe. Dưới đây là những rủi ro chính của việc uống quá nhiều.

Táo bón

Một vấn đề phổ biến xảy ra khi trẻ uống quá nhiều sữa là táo bón. Vì sữa làm no nhưng không chứa chất xơ nên trẻ có thể bị táo bón do uống quá nhiều sữa và ăn ít thức ăn có chứa chất xơ. Điều này có thể là một vấn đề đối với trẻ mới biết đi uống hơn 600ml sữa mỗi ngày.

Thói quen ăn uống kém

Một mối quan tâm khác với trẻ mới biết đi uống quá nhiều sữa là lượng calo nạp vào cơ thể. Vấn đề này càng gia tăng nếu trẻ tiếp tục uống sữa nguyên kem trong độ tuổi. Lượng calo tăng thêm này thường khiến trẻ no và không muốn ăn các thức ăn bổ dưỡng khác, hoặc nếu trẻ vẫn ăn uống tốt, thì lượng calo dư thừa có thể dẫn đến tăng cân.

 

Thiếu máu do thiếu sắt

Trẻ mới biết đi uống quá nhiều sữa cũng có nguy cơ bị thiếu máu do thiếu sắt. Điều này là do sữa chỉ chứa một lượng vi lượng sắt và không thể thay thế các thực phẩm giàu chất sắt trong chế độ ăn. Nếu thiếu máu nghiêm trọng, có thể phải bổ sung sắt.

Sắt là một khoáng chất quan trọng được đưa vào từ chế độ ăn uống mà cơ thể chúng ta sử dụng để tạo ra hemoglobin, một loại protein trong tế bào hồng cầu giúp cung cấp ôxy đến các mô khác nhau trong cơ thể. Thiếu máu do thiếu sắt xảy ra khi cơ thể có lượng hemoglobin thấp trong cơ thể do không đủ sắt.

Các triệu chứng phổ biến của thiếu máu do thiếu sắt bao gồm da xanh xao, thiếu năng lượng và khó thở sau khi hoạt động.

Mất protein từ ruột

Mất protein từ ruột, hay bệnh ruột mất protein, xảy ra khi trẻ uống quá nhiều sữa, khiến lượng protein trong máu thấp. Điều này có thể khiến các mạch máu rò rỉ chất lỏng vào mô dẫn đến phù chân, lưng và mặt, làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng.

Các triệu chứng của bệnh ruột mất protein bao gồm: Sưng bàn chân, chân và mặt; Chuột rút hoặc yếu cơ; Tràn dịch màng phổi...

Uống quá nhiều sữa có thể gây béo phì

Trẻ uống quá nhiều sữa tươi và những hệ lụy với sức khỏe - Ảnh 4.

Uống quá nhiều sữa có thể gây tăng cân, béo phì.

Nếu một đứa trẻ uống 900-1.400ml sữa nguyên chất mỗi ngày, chúng sẽ nhận được khoảng 600 đến 900 calo chỉ từ sữa. Con số này bằng 50-55% trong số 1.300 calo ước tính mà trẻ mới biết đi cần mỗi ngày, khiến trẻ dễ hấp thụ quá nhiều calo.

Nếu con bạn cũng uống nhiều nước trái cây, chúng có thể nhận được gần như tất cả lượng calo chúng cần từ sữa và nước trái cây. Một chế độ ăn chủ yếu bao gồm sữa và nước trái cây không cung cấp sự kết hợp thích hợp của chất béo, protein, carbohydrate, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển khỏe mạnh.

3. Làm thế nào để giảm tiêu thụ sữa?

Khi trẻ ăn uống tốt và không có vấn đề về táo bón, thiếu máu, hoặc tăng cân quá mức, như đã nói ở trên, thì việc uống sữa của trẻ là điều lành mạnh.

Tuy nhiên, nếu bạn lo lắng rằng con bạn đang uống quá nhiều sữa hoặc nếu chúng có nguy cơ mắc bất kỳ vấn đề nào ở trên, thì bạn có thể giảm mức tiêu thụ sữa của trẻ như sau:

Giảm dần lượng sữa: Một cách đơn giản để cắt giảm lượng sữa của trẻ là không cho trẻ uống đầy cốc. Bạn cũng có thể cung cấp nước thay thế.

Làm mẫu cho những hành vi lành mạnh: Con trẻ quan sát và học hỏi từ những hành vi của người lớn. Nếu bạn thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh và hạn chế uống sữa của chính mình (và không lạm dụng đồ uống kém lành mạnh hơn như nước trái cây hoặc nước ngọt), con bạn sẽ có nhiều khả năng làm như vậy.

Cung cấp nhiều bữa ăn chính và đồ ăn nhẹ lành mạnh khác nhau: Phục vụ các lựa chọn thực phẩm bổ dưỡng khác có thể khuyến khích con bạn chọn ăn nhiều calo hơn là uống chúng.

Chuyển sang sữa ít béo hơn: Cho trẻ uống sữa ít béo hoặc không béo có thể làm giảm lượng chất béo và calo của con bạn ngay cả khi trẻ tiếp tục uống nhiều sữa hơn mức lý tưởng.

Nói chuyện với bác sĩ về chứng không thích thức ăn : Yêu cầu trợ giúp thêm nếu con bạn dường như không ăn thức ăn có kết cấu, vì chúng có thể có ác cảm với thức ăn.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Không nên cho trẻ uống sữa thay ăn.

Theo sức khỏe đời sống
Từ khóa:
Bình luận
Tin mới
  • 31/01/2026

    Các vấn đề về tim mạch trong mùa đông

    Thời tiết lạnh có thể khiến bạn cảm thấy sảng khoái, nhưng bạn có biết nguy cơ đau tim tăng mạnh vào mùa đông khi nhiệt độ giảm không? Tim của bạn phải làm việc nhiều hơn khi trời lạnh, điều này khiến các cơn đau tim có dịp xuất hiện ở những người đã có sẵn vấn đề tim mạch. Không khí lạnh có thể gây ra những cơn đau ngực, tăng huyết áp và gây căng thẳng đột ngột cho hệ thống tim mạch của bạn vào mùa đông. Hãy cùng tìm hiểu với bài viết dưới đây để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề tim mạch trong mùa đông và cách phòng ngừa.

  • 30/01/2026

    Có nên ăn bánh mì để giảm cân?

    Bánh mì thường bị gắn mác là 'thủ phạm' gây tăng cân và là nguyên nhân gây ra các vấn đề về đường huyết. Tuy nhiên, bánh mì không hoàn toàn xấu mà nằm ở loại bánh mì bạn chọn và cách bạn tiêu thụ nó.

  • 30/01/2026

    “Hãy ăn thực phẩm thật” – sự thay đổi trong tư duy dinh dưỡng

    Ngày 07 tháng 01 năm 2026, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố Hướng dẫn Chế độ ăn uống giai đoạn 2025 – 2030 (gọi tắt là Hướng dẫn dinh dưỡng) trong bối cảnh sức khỏe của người dân Mỹ đang ở mức báo động: gần 50% người Mỹ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, 75% người trưởng thành mắc ít nhất 1 bệnh mãn tính và 90% chi phí y tế được dùng để điều trị các bệnh mãn tính.

  • 29/01/2026

    6 thức uống thải độc thận buổi sáng

    Thải độc cơ thể đúng cách, đặc biệt là hỗ trợ chức năng thận, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe lâu dài. Một số loại thức uống buổi sáng giúp thanh lọc thận tự nhiên, tăng cường trao đổi chất, hỗ trợ giảm cân và góp phần ngăn ngừa bệnh gout (gút)

  • 29/01/2026

    Bí kíp lựa chọn thực phẩm Tết an toàn và chất lượng

    Thời điểm này, nguồn cung hàng hóa, thực phẩm Tết hiện khá dồi dào để người tiêu dùng cân nhắc, lựa chọn các mặt hàng phù hợp với nhu cầu của bản thân và gia đình mình. Tất nhiên, tiêu chí chất lượng và an toàn vẫn được đặt lên hàng đầu.

  • 29/01/2026

    Vi khuẩn Bacillus cereus – Thủ phạm gây độc trong các lon sữa

    Bacillus cereus (B. cereus) là một vi sinh vật tiết ra các độc tố có hại, đây cũng chính là thủ phạm gây ra ngộ độc trong các sản phẩm thực phẩm không đạt chuẩn trên thị trường hiện nay, bao gồm một số loại sữa, cơm nguội và các món ăn khác. Bằng cách tiết ra một loại độc tố tên là Cereulide, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng như tiêu chảy, nôn mửa. Tuy nhiên đấy không phải là tất cả, B. cereus có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn và nguy hiểm đến tính mạng con người. Cùng tìm hiểu về vi khuẩn B. cereus qua bài viết sau đây!

  • 28/01/2026

    Vụ 500 tấn hóa chất natri silicate ngâm ốc bươu, người ăn như 'bỏng hóa học'

    Sau vụ cơ quan chức năng ở TPHCM triệt phá đường dây dùng 500 tấn natri silicate sơ chế 3.000 tấn thịt ốc bươu trước khi đưa ra thị trường, nhiều người lo lắng về mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe khi lỡ ăn phải loại thực phẩm này.

  • 28/01/2026

    Nhu cầu dinh dưỡng đặc thù ở người bệnh ung thư gan

    Do đặc điểm bệnh lý ung thư gan liên quan trực tiếp đến chức năng gan – cơ quan chuyển hóa trung tâm – bệnh nhân ung thư gan có nhu cầu dinh dưỡng khác biệt so với người khỏe mạnh, đồng thời thay đổi tùy theo giai đoạn bệnh và tình trạng dinh dưỡng hiện tại…

Xem thêm