Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Thay đổi thuốc không làm giảm tình trạng kháng kháng sinh

Việc vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh là một vấn đề sức khỏe toàn cầu. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng khi một số vi khuẩn phát triển khả năng đề kháng với một loại kháng sinh, chúng có thể cùng lúc phát triển đề kháng với một loại kháng sinh khác. Chuyển đổi giữa các loại kháng sinh có thể là một cách để giảm bớt tình trạng kháng kháng sinh ngày càng tăng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho thấy rất ít vi khuẩn hoạt động theo cách này, điều này cho thấy rằng chu trình kháng sinh còn hạn chế.

Trong một nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng chu kỳ kháng sinh liên quan đến việc các bác sĩ chuyển đổi giữa các loại kháng sinh để khắc phục tình trạng kháng kháng sinh, có thể là một chiến lược không hiệu quả và không bền vững. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng một số loại vi khuẩn thích hợp để sử dụng kháng sinh.

Kháng thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh rất quan trọng để điều trị và ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn. Việc sử dụng vi sinh vật để bảo vệ khỏi nhiễm trùng đã được ghi nhận ở Trung Quốc cổ đại, Hy Lạp và Ai Cập, trong khi việc sử dụng kháng sinh hiện đại bắt đầu sau khi Alexander Fleming phát hiện ra penicillin trong 1928. Tuy nhiên, ngày nay vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh là một vấn đề sức khỏe ngày càng nghiêm trọng. Tổ chức Y tế Thế giới mô tả kháng kháng sinh là “một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu, an ninh lương thực và sự phát triển ngày nay.” Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tình trạng kháng kháng sinh ngày càng trầm trọng hơn do lạm dụng kháng sinh, kê đơn không phù hợp và việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc này trong chăn nuôi gia súc. Ngoài ra còn thiếu các nghiên cứu về kháng sinh mới, nghiên cứu các phương pháp điều trị bệnh mãn tính thay vì các phương pháp điều trị chữa bệnh. Dựa theo các mối đe dọa từ kháng thuốc kháng sinh ở Hoa Kỳ, một báo cáo năm 2019 từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh, vi khuẩn và nấm kháng thuốc kháng sinh gây ra cái chết của khoảng 35.000 người mỗi năm. Nghiên cứu cho thấy các bác sĩ chẩn đoán 178 ca nhiễm trùng kháng thuốc kháng sinh mỗi ngày. Thật đáng lo ngại là ngày càng có nhiều bệnh nhiễm trùng kháng lại thuốc kháng sinh. Uống thuốc kháng sinh khi không cần thiết có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của bạn và gia đình bạn, bây giờ và trong tương lai.

Sự nhạy cảm của vi khuẩn

Các nhà nghiên cứu đã gợi ý một cách để chống lại tình trạng kháng thuốc kháng sinh là xác định các chủng vi khuẩn có đề kháng với một loại kháng sinh đồng thời nhạy cảm với một loại kháng sinh khác, do có sự tiến hóa giống nhau. Trong những trường hợp này, có thể tạm dừng hai loại thuốc kháng sinh hoặc ức chế sự kháng thuốc của vi khuẩn. Tuy nhiên, nghiên cứu về quá trình này đã tạo ra nhiều kết quả khác nhau và nhiều nghiên cứu đã xác định “độ nhạy cảm”, không phải nghiên cứu trên động vật sống. Các nhà khoa học đã nhấn mạnh cách vi khuẩn phản ứng khác nhau với thuốc kháng sinh tùy thuộc vào điều kiện trao đổi chất của chúng, và do đó, sự kháng thuốc của vi khuẩn trong phòng thí nghiệm có thể khác với sự đề kháng của vi khuẩn trên người. Sự tồn tại của các cặp kháng sinh được mong đợi vì hiện tượng được gọi là nhạy cảm với thuốc: Khi mầm bệnh thích ứng với một loại thuốc, nó có thể trở nên nhạy cảm hơn với các thuốc khác hoặc có thể trở nên kháng nhiều hơn (đề kháng chéo).

Bốn năm nghiên cứu

Trong một nghiên cứu về tính nhảy cảm giữa 448.563 loại thuốc kháng sinh. Các số liệu được lấy từ 23 bệnh viện trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2018. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã phát triển một phương pháp tính điểm để xác định các loại kháng sinh kháng độc lập, kháng đồng thời hoặc kháng riêng rẽ, phương pháp sau cung cấp tiềm năng cho việc quay vòng kháng sinh.

Ít hơn 1%

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 69 cặp kháng sinh có đặc tính kháng riêng rẽ đối với các quần thể con của sáu loại vi khuẩn gây bệnh phổ biến nhất. Tuy nhiên, ở cấp độ loài, con số này giảm xuống còn 6 trong số 875 cặp kháng sinh -hay chỉ 0,7%. Ngược lại, hơn một nửa cặp kháng sinh cho thấy sự kháng thuốc đồng thời, có nghĩa là vi khuẩn thường đề kháng với cả hai loại kháng sinh. Sự đề kháng đồng thời này đã lên đến ba loại kháng sinh ở mức độ lớn hơn so với dự đoán của các nhà nghiên cứu dựa trên dữ liệu của các cặp kháng sinh. Điều này cho thấy rằng khi vi khuẩn phát triển đề kháng với một loại kháng sinh, chúng có nhiều khả năng phát triển khả năng kháng với nhiều loại khác.

Nghiên cứu trong tương lai

Các nhà khoa học cho biết trong khi ít cặp kháng sinh duy trì sự đề kháng riêng rẽ, 69 cặp được xác định ở cấp độ phân loài sẽ là điểm khởi đầu tốt cho các nghiên cứu sâu hơn. Một thử nghiệm để chống lại tình trạng kháng thuốc kháng sinh là sử dụng luân phiên giữa các loại thuốc kháng sinh khác nhau. Thông thường, thử nghiệm này được áp dụng bằng cách cho các bệnh nhân khác nhau dùng các loại thuốc kháng sinh khác nhau trong cùng một bệnh viện, hoặc chuyển đổi thuốc kháng sinh cho mỗi bệnh nhân khác hoặc cách tháng. Những thử nghiệm chuyển đổi này đã thất bại trong việc hạn chế tình trạng kháng thuốc, nhưng điều này có thể là do lựa chọn sai cặp kháng sinh. Các nhà khoa học đã chỉ ra cách tìm các cặp kháng sinh có nhiều khả năng thành công trong việc giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh. Đây là những ứng cử viên kháng sinh tốt cho các thử nghiệm lâm sàng trong tương lai, nhưng chúng cũng sẽ yêu cầu phân loại ở cấp độ loài phụ để được áp dụng một cách chính xác. Nghiên cứu cũng tiết lộ những cặp kháng sinh nào có khả năng kháng đồng thời kém nhất và nên tránh sử dụng những loại kháng sinh này cùng nhau.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Kháng kháng sinh - mối nguy với y tế toàn cầu

 

Hà Linh - Viện Y học ứng dụng Việt Nam (theo Medical News Today) -
Bình luận
Tin mới
  • 21/03/2026

    Trà thảo mộc và cơ chế sinh học giúp thư giãn tinh thần

    Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.

  • 21/03/2026

    7 thức uống giúp thanh lọc phổi tự nhiên

    Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.

  • 21/03/2026

    Khi cảm lạnh chuyển thành viêm xoang

    Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?

  • 20/03/2026

    Đản hoa – Thảo mộc thường bị bỏ quên

    Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.

  • 20/03/2026

    Sương mù não do hóa trị

    Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.

  • 19/03/2026

    Trẻ khó ngủ, mất ngủ do tăng động: Dấu hiệu không nên bỏ qua

    Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.

  • 19/03/2026

    Bệnh sốt xuất huyết

    Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.

  • 19/03/2026

    Thảo mộc giàu flavonoid và vai trò trong hỗ trợ giảm nguy cơ ung thư

    Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.

Xem thêm