Sự ra đời của penicillin là bước ngoặt lớn trong điều trị các nhiễm khuẩn của y học toàn thế giới. Cùng với thời gian, các vi khuẩn ngày càng tỏ ra “cứng đầu cứng cổ” và chống lại mạnh mẽ penicillin. Để chống lại các vi khuẩn ngày càng kháng thuốc penicillin, các nhà khoa học đã thay đổi một phần cấu tạo hóa học của penicillin để sản xuất ampixillin, amoxicillin là các penicillin bán tổng hợp đang được dùng rộng rãi. Thế nhưng, việc sử dụng kháng sinh tràn lan như hiện nay khiến ngày càng có nhiều vi khuẩn cũng đã kháng lại cả ampixillin, amoxicillin làm giảm công hiệu điều trị của thuốc. Trước thực trạng nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc, việc phát hiện ra dòng kháng sinh cephalosporin đã mở ra một đường hướng tích cực cho ngành kháng sinh học. Cephalosporin là nhóm kháng sinh bán tổng hợp có cấu trúc hóa học gần giống các penicillin, nhưng có hoạt tính kháng sinh cao hơn, rộng hơn. Sự phát triển mạnh mẽ của các cephalosporin trong thập kỷ qua rất đáng được ghi nhận và tạo ra một nhóm thuốc rất được quan tâm. Dựa vào tính chất hóa học, vi sinh học và trình tự phát triển, các cephalosporin được chia thành nhiều thế hệ. Việc dùng các thuốc này trong điều trị thế nào là điều mà mọi người cùng quan tâm.
Sử dụng cephalosporin như thế nào?
Cephalosporin thế hệ đầu tiên có khả năng diệt khuẩn tuyệt vời cho các nhiễm khuẩn da và mô mềm do S. aureus và S. Pyogenes gây ra. Trong một số trường hợp, sử dụng một liều duy nhất của cefazolin trước khi phẫu thuật là điều trị dự phòng tránh các tác nhân gây hại trong hệ thực vật da. Đối với phẫu thuật đại trực tràng, điều trị dự phòng cho các vi khuẩn yếm khí đường ruột thường được chỉ định sử dụng. Ngoài ra, cefadroxil có thể được dùng đường uống 1 lần hoặc 2 lần/ngày để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu.
Cephalosporin thế hệ thứ hai có thể được sử dụng để điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, chúng tốt nhất (so với amoxicillin uống) khi điều trị viêm phổi do S. pneumoniae kháng penicillin và viêm tai giữa. Cefoxitin và cefotetan có hiệu quả trong điều trị nhiễm khuẩn: ổ bụng, bệnh viêm vùng chậu, nhiễm khuẩn bàn chân tiểu đường. Tuy nhiên, không nên sử dụng cephalosporin thế hệ thứ hai để điều trị theo kinh nghiệm của bệnh viêm màng não hoặc viêm phổi.

Cephalosporin thế hệ thứ ba: Ceftriaxon là liệu pháp lựa chọn của bệnh lậu và các dạng nghiêm trọng của bệnh nhiễm khuẩn do ve gây ra. Cefotaxime hoặc ceftriaxon được sử dụng cho điều trị ban đầu của bệnh viêm màng não ở người lớn không suy giảm miễn dịch và trẻ em hơn 3 tháng tuổi do thuốc thâm nhập tốt vào dịch não tủy và là những thuốc được lựa chọn cho điều trị bệnh viêm màng não gây ra bởi H. influenzae, N. meningitidis và các vi khuẩn gram âm đường ruột. Ceftazidim (có aminoglycoside) là lựa chọn điều trị cho bệnh viêm màng não Pseudomonas. Cefditoren pivoxil chỉ được chỉ định để điều trị nhẹ đến trung bình viêm họng, viêm amidan, nhiễm khuẩn da không biến chứng cấu trúc da và các đợt cấp tính của viêm phế quản mạn tính. Ceftibuten chỉ được chỉ định cho các đợt cấp tính do vi khuẩn của viêm phế quản mãn, viêm tai giữa cấp tính do vi khuẩn, viêm họng và viêm amiđan...
Cephalosporin thế hệ thứ tư được chỉ định để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn bệnh viện do vi khuẩn kháng thuốc.
Và những tác dụng không mong muốn
Phản ứng quá mẫn đối với các cephalosporin là phản ứng không mong muốn thường gặp nhất và không có chứng cứ nào cho thấy cephalosporin này lại gây mẫn cảm ít hoặc nhiều hơn so với cephalosporin khác. Các phản ứng xảy ra giống như phản ứng do penicillin, điều này có thể liên quan đến cấu trúc beta lactam của cả hai nhóm kháng sinh này. Phản ứng tức thời như phản vệ, co thắt phế quản, mày đay. Thường gặp hơn là phát ban, thường xảy ra sau vài ngày điều trị. Có thể kèm hoặc không kèm sốt, tăng bạch cầu ái toan. Một vài trường hợp có thể bị tiêu chảy.
Do cấu trúc tương tự giữa penicillin và cephalosporin, người bệnh đã bị dị ứng với một loại nhóm thuốc này có thể bị phản ứng chéo với một loại trong nhóm thuốc kia khi dùng. Người bệnh có tiền sử dị ứng nhẹ hoặc phản ứng từ đã lâu với penicillin thì ít có nguy cơ phát ban hoặc phản ứng dị ứng khác đối với cephalosporin. Tuy nhiên, người bệnh có phản ứng gần đây nặng và tức thời với penicillin thì khi dùng cephalosporin phải hết sức thận trọng hoặc không nên dùng.
Cephalosporin được coi là có tiềm năng độc với thận mặc dù không độc như aminoglycosid hoặc polymyxin. Hoại tử ống thận đã xảy ra khi dùng cephaloridin với liều trên 4 gam mỗi ngày. Dùng liều cao cefalotin có thể gây hoại tử ống thận cấp trong một số trường hợp.
Mỗi loại thuốc của nhóm cephalosporin đều có liều dùng và những lưu ý khác nhau khi dùng thuốc. Người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ chỉ định của thầy thuốc, không tự ý dùng thuốc hoặc dùng không đủ liều... Làm như vậy sẽ góp phần làm cho vi khuẩn kháng thuốc, giảm hiệu quả điều trị, tăng tai biến khi dùng thuốc...
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sử dụng kháng sinh khi mang thai: những lưu ý cần thiết
Trứng là nguồn protein hoàn hảo nhưng để tối ưu hóa năng lượng và khả năng hấp thụ dưỡng chất cần ăn đúng cách. Tham khảo 5 thực phẩm nên ăn cùng trứng giúp trứng phát huy tối đa sức mạnh dinh dưỡng.
Khi trời mưa hoặc trở lạnh, bạn có thể cảm thấy tâm trạng mình đi xuống, thiếu năng lượng và lười biếng hơn. Điều này không phải ngẫu nhiên, mà là dấu hiệu cho thấy thời tiết có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần. Bài viết này sẽ đi sâu vào mối liên hệ giữa thời tiết và cảm xúc, giải thích tại sao những thay đổi theo mùa có thể gây ra trầm cảm theo mùa, đồng thời giới thiệu các biện pháp tự nhiên để giúp bạn duy trì tinh thần lạc quan ngay cả trong những ngày u ám.
Giống như ca sĩ hay diễn giả, giáo viên thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ đau họng do phải nói liên tục trong nhiều giờ. Tham khảo một số đồ uống đơn giản giúp các thầy cô phòng ngừa và làm dịu cơn đau họng một cách hiệu quả.
Mùa thu đến mang theo không khí se lạnh, giảm độ ẩm, khiến da và tóc dễ rơi vào tình trạng khô ráp, nứt nẻ và thiếu sức sống.Thay đổi thời tiết không chỉ ảnh hưởng đến vẻ ngoài mà còn tác động đến sức khỏe của làn da và mái tóc. Điều chỉnh quy trình chăm sóc da và bảo vệ tóc trước tình trạng tóc khô xơ khi giao mùa là cần thiết để duy trì vẻ đẹp tự nhiên. Bài viết này sẽ cung cấp những phương pháp khoa học giúp bạn bảo vệ da và tóc hiệu quả trong mùa giao mùa.
Nhờ hiệu quả của thuốc kháng virus (ARV), ngày càng nhiều trẻ nhiễm HIV có thể phát triển, học tập và sinh hoạt bình thường như những trẻ khác. Tuy nhiên, dinh dưỡng vẫn là nền tảng của chăm sóc điều trị, giúp duy trì cân nặng, tăng sức đề kháng, giảm biến chứng và hạn chế tác dụng phụ của thuốc.
Lõm ngực bẩm sinh xảy ra khi xương ức phát triển bất thường tạo ra vết lõm trên thành ngực của bạn và có thể gây ra các vấn đề về thể chất cũng như cảm xúc cho trẻ. Cùng tìm hiểu về bệnh lý lõm ngực bẩm sinh ở trẻ qua bài viết sau đây!
Thời tiết lạnh giá và chuyển mùa thường làm gia tăng các vấn đề về xương khớp, gây ra tình trạng đau cứng khớp và khó khăn khi vận động. Sự thay đổi của nhiệt độ và độ ẩm có thể làm các mô cơ giãn nở, tạo áp lực lên khớp, dẫn đến cảm giác đau nhức hoặc tê cứng.
Hà Nội, ngày 27/11/2025 – Kết quả nghiên cứu mới nhất do Viện Y học ứng dụng Việt Nam thực hiện được công bố tại Hội thảo khoa học “Thực trạng dinh dưỡng, sức khỏe người cao tuổi ở một số thành phố lớn và đề xuất một số giải pháp” đã chỉ ra những thách thức lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (NCT) tại các đô thị lớn.