Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Kháng sinh nhóm cephalosporin: Sử dụng thế nào cho hiệu quả?

Các cephalosporin được sử dụng rộng rãi và là thuốc kháng sinh điều trị quan trọng. Đã có những kháng sinh thế hệ 4 thuộc nhóm này.

Nhưng không vì thế mà các kháng sinh thế hệ 1, 2, 3 không được tin dùng. Vậy sử dụng kháng sinh các thế hệ của cephalosporin như thế nào cho hiệu quả?

Sự ra đời của penicillin là bước ngoặt lớn trong điều trị các nhiễm khuẩn của y học toàn thế giới. Cùng với thời gian, các vi khuẩn ngày càng tỏ ra “cứng đầu cứng cổ” và chống lại mạnh mẽ penicillin. Để chống lại các vi khuẩn ngày càng kháng thuốc penicillin, các nhà khoa học đã thay đổi một phần cấu tạo hóa học của penicillin để sản xuất ampixillin, amoxicillin là các penicillin bán tổng hợp đang được dùng rộng rãi. Thế nhưng, việc sử dụng kháng sinh tràn lan như hiện nay khiến ngày càng có nhiều vi khuẩn cũng đã kháng lại cả ampixillin, amoxicillin làm giảm công hiệu điều trị của thuốc. Trước thực trạng nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc, việc phát hiện ra dòng kháng sinh cephalosporin đã mở ra một đường hướng tích cực cho ngành kháng sinh học. Cephalosporin là nhóm kháng sinh bán tổng hợp có cấu trúc hóa học gần giống các penicillin, nhưng có hoạt tính kháng sinh cao hơn, rộng hơn. Sự phát triển mạnh mẽ của các cephalosporin trong thập kỷ qua rất đáng được ghi nhận và tạo ra một nhóm thuốc rất được quan tâm. Dựa vào tính chất hóa học, vi sinh học và trình tự phát triển, các cephalosporin được chia thành nhiều thế hệ. Việc dùng các thuốc này trong điều trị thế nào là điều mà mọi người cùng quan tâm.

Sử dụng cephalosporin như thế nào?

Cephalosporin thế hệ đầu tiên có khả năng diệt khuẩn tuyệt vời cho các nhiễm khuẩn da và mô mềm do S. aureus và S. Pyogenes gây ra. Trong một số trường hợp, sử dụng một liều duy nhất của cefazolin trước khi phẫu thuật là điều trị dự phòng tránh các tác nhân gây hại trong hệ thực vật da. Đối với phẫu thuật đại trực tràng, điều trị dự phòng cho các vi khuẩn yếm khí đường ruột thường được chỉ định sử dụng. Ngoài ra, cefadroxil có thể được dùng đường uống 1 lần hoặc 2 lần/ngày để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

Cephalosporin thế hệ thứ hai có thể được sử dụng để điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, chúng tốt nhất (so với amoxicillin uống) khi điều trị viêm phổi do S. pneumoniae kháng penicillin và viêm tai giữa. Cefoxitin và cefotetan có hiệu quả trong điều trị nhiễm khuẩn: ổ bụng, bệnh viêm vùng chậu, nhiễm khuẩn bàn chân tiểu đường. Tuy nhiên, không nên sử dụng cephalosporin thế hệ thứ hai để điều trị theo kinh nghiệm của bệnh viêm màng não hoặc viêm phổi.

khang-sinh-nhom-cephalosporin-su-dung-the-nao-cho-hieu-qua-1

Cephalosporin thế hệ thứ ba: Ceftriaxon là liệu pháp lựa chọn của bệnh lậu và các dạng nghiêm trọng của bệnh nhiễm khuẩn do ve gây ra. Cefotaxime hoặc ceftriaxon được sử dụng cho điều trị ban đầu của bệnh viêm màng não ở người lớn không suy giảm miễn dịch và trẻ em hơn 3 tháng tuổi do thuốc thâm nhập tốt vào dịch não tủy và là những thuốc được lựa chọn cho điều trị bệnh viêm màng não gây ra bởi H. influenzae, N. meningitidis và các vi khuẩn gram âm đường ruột. Ceftazidim (có aminoglycoside) là lựa chọn điều trị cho bệnh viêm màng não Pseudomonas. Cefditoren pivoxil chỉ được chỉ định để điều trị nhẹ đến trung bình viêm họng, viêm amidan, nhiễm khuẩn da không biến chứng cấu trúc da và các đợt cấp tính của viêm phế quản mạn tính. Ceftibuten chỉ được chỉ định cho các đợt cấp tính do vi khuẩn của viêm phế quản mãn, viêm tai giữa cấp tính do vi khuẩn, viêm họng và viêm amiđan...

Cephalosporin thế hệ thứ tư được chỉ định để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn bệnh viện do vi khuẩn kháng thuốc.

Và những tác dụng không mong muốn

Phản ứng quá mẫn đối với các cephalosporin là phản ứng không mong muốn thường gặp nhất và không có chứng cứ nào cho thấy cephalosporin này lại gây mẫn cảm ít hoặc nhiều hơn so với cephalosporin khác. Các phản ứng xảy ra giống như phản ứng do penicillin, điều này có thể liên quan đến cấu trúc beta lactam của cả hai nhóm kháng sinh này. Phản ứng tức thời như phản vệ, co thắt phế quản, mày đay. Thường gặp hơn là  phát ban, thường xảy ra sau vài ngày điều trị. Có thể kèm hoặc không kèm sốt, tăng bạch cầu ái toan. Một vài trường hợp có thể bị tiêu chảy.

Do cấu trúc tương tự giữa penicillin và cephalosporin, người bệnh đã bị dị ứng với một loại nhóm thuốc này có thể bị phản ứng chéo với một loại trong nhóm thuốc kia khi dùng. Người bệnh có tiền sử dị  ứng nhẹ hoặc phản ứng từ đã lâu với penicillin thì ít có nguy cơ phát ban hoặc phản ứng dị ứng khác đối với cephalosporin. Tuy nhiên, người bệnh có phản ứng gần đây nặng và tức thời với penicillin thì khi dùng cephalosporin phải hết sức thận trọng hoặc không nên dùng.

Cephalosporin được coi là có tiềm năng độc với thận mặc dù không độc như aminoglycosid hoặc polymyxin. Hoại tử ống thận đã xảy ra khi dùng cephaloridin với liều trên 4 gam mỗi ngày. Dùng liều cao cefalotin có thể gây hoại tử ống thận cấp trong một số trường hợp.

Mỗi loại thuốc của nhóm cephalosporin đều có liều dùng và những lưu ý khác nhau khi dùng thuốc. Người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ chỉ định của thầy thuốc, không tự ý dùng thuốc hoặc dùng không đủ liều... Làm như vậy sẽ góp phần làm cho vi khuẩn kháng thuốc, giảm hiệu quả điều trị, tăng tai biến khi dùng thuốc...

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sử dụng kháng sinh khi mang thai: những lưu ý cần thiết

DS. Hồ Thanh - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

Xem thêm