Kháng kháng sinh diễn ra khi các loại vi khuẩn tự biến đổi nhằm vô hiệu hóa tác dụng của thuốc. Cơ chế kháng này gồm nhiều dạng, có thể lan rộng từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác và đe dọa tính mạng con người qua những vết thương tưởng chừng rất nhỏ bé.
Dưới đây là năm loại vi khuẩn kháng kháng sinh đáng sợ trong 5 năm qua, theo ABC.
Vi khuẩn kháng cực mạnh Salmonella typhi
Salmonella typhi có khả năng lây lan rộng bệnh thương hàn cho 21 triệu người trên toàn thế giới, khoảng 223.000 ca tử vong mỗi năm. Tháng 11/2016, Pakistan ghi nhận một đợt bùng phát Salmonella typhi khiến 858 trường hợp nhiễm bệnh và bốn người tử vong ở cùng một tỉnh. Hiện nay, duy nhất kháng sinh đường uống azithromycin có tác dụng với Salmonella typhi.
Salmonella typhi chuyển từ đa kháng (kháng ít nhất 3 nhóm) tới kháng cực mạnh (kháng tất cả trừ hai nhóm kháng sinh) do chứa plasmid, một đoạn ADN mang gen kháng thuốc. Nếu tìm được plasmid khác, Salmonella typhi sẽ vô hiệu nốt hai nhóm kháng sinh cuối cùng.
Vi khuẩn kháng cực mạnh Mycobacterium tuberculosis
Vi khuẩn lao ẩn sâu trong tế bào cơ thể người. Để chữa lao, bệnh nhân cần tới 6 tháng điều trị liên tục bằng 4 loại thuốc kháng sinh.
Ước tính khoảng 6% đến 13% ca nhiễm lao mới thuộc loại đa kháng, phổ biến nhất ở châu Âu và Nga. Vi khuẩn đa kháng kéo dài thời gian điều trị (từ 18 đến 24 tháng), gây tốn kém và tổn hại cho thận cũng như các cơ quan khác. Hơn nữa, tỷ lệ điều trị thành công chỉ đạt 30% nên việc vi khuẩn lao lan rộng tới hơn 123 nước là rất đáng báo động.
Vi khuẩn toàn kháng Klebsiella pneumoniae
Phế trực khuẩn Klebsiella pneumoniae có nhiều trong da, ruột, đất và kéo tới nhiều loại bệnh nhiễm trùng chết người khi hệ miễn dịch suy yếu. Vì chủng vi khuẩn này rất phổ biến ở các bệnh viện nên nó trở thành một trong những mối nguy hại hàng đầu cho sức khỏe cộng đồng.
Năm 2013, có 8.000 trường hợp ở Mỹ được báo cáo là xuất hiện đa kháng liên quan tới Klebsiella pneumoniae, 50% số ca phát triển thành nhiễm trùng máu tử vong. Đến năm 2016, loại vi khuẩn này kháng tất cả 26 loại kháng sinh thông dụng.
Vi khuẩn toàn kháng Pseudomonas aeruginosa
Đặc tính của Pseudomonas aeruginosa tương tự Klebsiella pneumoniae. Hàng năm tại Mỹ có khoảng 51.000 ca nhiễm vi khuẩn này, trong đó 400 ca tử vong.
Pseudomonas aeruginosa là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở những người mắc xơ nang. Năm 2013, hơn 42% bệnh nhân xơ nang nhiễm Pseudomonas aeruginosa mạn tính được điều trị bằng colistin, “hàng rào phòng thủ” kháng sinh cuối cùng do vi khuẩn này kháng tất cả các thuốc kháng sinh khác hiện có.
Vi khuẩn kháng cực mạnh Neisseria gonorrhoeae
Thế giới có khoảng 78 triệu người mắc bệnh lậu do nhiễm khuẩn Neisseria gonorrhoeae, trong đó khoảng một phần ba kháng ít nhất một loại kháng sinh. Gần đây, y văn còn ghi nhận một chủng khuẩn mới kháng tất cả trừ một loại kháng sinh. Đây là điều rất đáng lo ngại bởi bệnh lậu lây lan nhanh, nhất là ở người có nhiều bạn tình.
Dù không nguy hiểm tới tính mạng, bệnh lậu dẫn tới nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và kéo dài như vô sinh. Trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh lậu có thể lan vào máu, khiến bệnh nhân sốc nhiễm trùng và tử vong.
Các vi khuẩn có thể tự biến đổi hoặc truyền gen kháng kháng sinh cho lẫn nhau. Vì vậy, theo thời gian, mọi chủng vi khuẩn sẽ kháng tất cả các loại thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, con người vẫn có cơ hội giảm khả năng này nếu sử dụng kháng sinh hợp lý, đầu tư nghiên cứu và phát triển các loại kháng sinh, vắcxin cũng như công cụ chẩn đoán mới.
Trong xã hội hiện đại, phụ nữ thường phải đối mặt với áp lực lớn khi vừa khẳng định sự nghiệp vừa gánh vác trách nhiệm gia đình, dễ dẫn đến tình trạng kiệt sức và bất ổn tâm lý. Nhằm giúp phái đẹp bảo vệ nền tảng tư duy và cảm xúc, Viện y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về việc xây dựng các thói quen lành mạnh mỗi ngày. Đây chính là giải pháp thiết thực để cải thiện chất lượng sống, đồng thời tạo nên "tấm khiên" vững chắc giúp chị em phụ nữ duy trì sự cân bằng và vượt qua những biến động trong cuộc sống
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.
Sức khỏe phụ nữ là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ đảm đương vai trò kinh tế mà còn gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, điều này vô tình tạo ra những áp lực lớn lên cả thể chất lẫn tinh thần. Việc trang bị kiến thức về các vấn đề sức khỏe thường gặp là bước đi tiên quyết để chị em chủ động bảo vệ bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp chị em có cái nhìn tổng quan và khoa học nhất về vấn đề này.
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.