Các loại thuốc được sử dụng để chống lại tình trạng nhiễm vi khuẩn được gọi là kháng sinh, dùng để chống nấm được gọi là thuốc chống nấm và dùng để chống virus được gọi là thuốc kháng virus. Cả 3 loại thuốc này có thể được gọi với một cái tên chung là thuốc chống nhiễm khuẩn.
Penicillin, tetracycline, và các loại thuốc kháng sinh nhóm sulfa là những loại kháng sinh được biết đến nhiều nhất. Một số loại kháng sinh (ví dụ như penicilline) là kháng sinh phổ hẹp và chỉ có thể tấn công một hoặc một vài loại nhiễm khuẩn nhất định. Các loại kháng sinh phổ rộng (ví dụ như tetracycline hay ampicilline) có thể tấn công rất nhiều tình trạng nhiễm trùng.

Một số loại vi khuẩn có thể kháng lại một vài loại kháng sinh mạnh hơn so vơi những loại vi khuẩn khác, ví dụ như các vi khuẩn gram âm (-): Camlylobacter, Salmonella, Shigella và Vibrio. Nguyên nhân là do không giống như các loại vi khuẩn thông thường, các vi khuẩn loại này thường có lớp màng tế bào kép bao quanh, do vậy, giúp chúng có thêm khả năng chống lại các loại kháng sinh.
Mặc dù kháng sinh là một loại thuốc rất hữu dụng, nhưng chỉ nên uống kháng sinh khi thực sự cần thiết, bởi vì:
Thứ nhất: kháng sinh có thể gây ra những phản ứng phụ có hại, từ nhẹ như đau bụng, đến nặng hơn là phản ứng dị ứng, dị tật bẩm sinh cho thai nhi hoặc thậm chí tử vong. Và, mặc dù có tác dụng diệt các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng, nhưng kháng sinh cũng có thể sẽ tiêu diệt cả một số loại vi khuẩn có lợi cho cơ thể. Do đó, có thể làm cản trở khả năng chống lại một số bệnh tật của cơ thể.
Thứ hai: Kháng sinh có thể sẽ kém hiệu quả dần theo thời gian (nhờn thuốc hay kháng kháng sinh). Lạm dụng kháng sinh thậm chí có thể làm vi khuẩn có hại trở nên khỏe hơn và sẽ khó điều trị hơn. Tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh đang là một mối lo ngại lớn với nền y học toàn cầu. Sử dụng kháng sinh không cân nhắc, dùng kháng sinh không đúng cách hoặc dùng kháng sinh khi không cần thiết, theo thời gian sẽ làm tăng số lượng vi khuẩn kháng kháng sinh và sẽ làm cho việc điều trị ngày một khó khăn hơn.

Vì chỉ có rất ít nghiên cứu bệnh chứng về vấn đề liệu loại thuốc nào là an toàn để sử dụng khi mang thai nên các nhà khoa học chủ yếu dựa vào các nghiên cứu trên động vật và các kinh nghiệm thu thập được trong thực tế để đưa ra quyết định, liệu có nên kê kháng sinh cho phụ nữ mang thai hay không. Năm 1979, Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phát triển hệ thống phân loại thuốc, bao gồm cả thuốc chống khuẩn (kháng sinh), dựa theo khả năng gây ra các ảnh hưởng bất lợi đến em bé chưa sinh ra. Hệ thống phân loại này bao gồm:
Thuốc loại A: Là những thuốc mà nghiên cứu bệnh chứng trên phụ nữ không thể chứng minh được nguy cơ đối với em bé trong 3 tháng đầu. Và cũng chưa có bằng chứng chứng minh những nguy cơ với thai nhi do sử dụng thuốc trong giai đoạn muộn hơn của thai kỳ. Khả năng gây nguy hiểm cho thai nhi là rất hiếm gặp.
Thuốc loại B: Là những thuốc mà các nghiên cứu trên động vật không chứng minh được nguy cơ đối với bào thai, nhưng cũng chưa có nghiên cứu bệnh chứng trên phụ nữ mang thai. Hoặc là những loại thuốc mà các nghiên cứu trên động vật cho thấy có thể có ảnh hưởng có hại (nhưng không làm giảm khả năng sinh sản) và chưa được nghiên cứu chứng minh trên người trong 3 tháng đầu của thai kỳ (và cũng không có bằng chứng về những nguy cơ xảy ra ở giai đoạn sau của thai kỳ)
Thuốc loại C: Là những loại thuốc có các nghiên cứu trên động vật và phát hiện thấy có những ảnh hưởng tiêu cực với thai nhi (gây bất thường ở thai nhi hoặc tử vong), nhưng chưa có nghiên cứu bệnh chứng trên phụ nữ hoặc đã có nghiên cứu trên phụ nữ nhưng kết quả không khớp với nghiên cứu trên động vật. Thuốc loại C chỉ nên được kê nếu lợi ích đối với thai nhi nhiều hơn là nguy cơ.
Thuốc loại D: Là loại thuốc có những bằng chứng tích cực cho thấy có thể gây hại cho thai nhi, nhưng lợi ích khi sử dụng thuốc này đối với thai phụ là có thể chấp nhận được. Ví dụ, trong trường hợp thai phụ bị đe dọa tính mạng hoặc thai phụ mắc bệnh nguy hiểm, và không có loại thuốc nào an toàn hơn hoặc hiệu quả cao hơn có thể sử dụng.
Thuốc loại X: Là loại thuốc mà cả nghiên cứu trên động vật và trên người đều chứng minh sẽ gây ra những bất thường cho thai nhi. Và/hoặc trên thực tế đã có trường hợp gặp phải những bất thường này. Nguy cơ của việc sử dụng những loại thuốc này với phụ nữ mang thai có thể sẽ lớn hơn là lợi ích khi sử dụng thuốc. Đây là những loại thuốc mà phụ nữ mang không nên sử dụng.
Do đa số các loại kháng sinh chưa được chứng minh bằng các nghiên cứu bệnh chứng trên người nên kháng sinh được FDA xếp vào nhóm thuốc loại B.
Thông thường, em bé chưa sinh ra rất dễ phải chịu các ảnh hưởng có hại từ các loại thuốc do đa số các mô và cơ quan của em bé đều chưa trưởng thành và chỉ đang trong giai đoạn phát triển. Một ngoại lệ duy nhất đó là việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh sulfa, thường được sử dụng trong các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu, hoặc phối hợp với các kháng sinh khác (như trimethoprim) trong thuốc Septra hoặc Bactrim. Mặc dù Septra không gây ra các dị tật bẩm sinh và được coi là an toàn với thai phụ và em bé, nhưng nó có thể gây vàng da sơ sinh và thường sẽ không được sử dụng ở giai đoạn sau của thai kỳ.
Nên nhớ rằng, việc lựa chọn kháng sinh sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, bao gồm loại vi sinh vật cần tiêu diệt là gì, khả năng kháng thuốc của chúng và nguy cơ xảy ra những ảnh hưởng bất lợi trong thời gian mang thai và cho con bú. Có rất ít loại thuốc chống chỉ định tuyệt đối trong tất cả các trường hợp, và cũng có rất ít loại thuốc thích hợp trong tất cả mọi trường hợp. Bác sỹ sẽ cân nhắc và giải thích về sự lựa chọn kháng sinh với thai phụ và là người giúp thai phụ cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của việc sử dụng loại kháng sinh đó.
Với các mẹ bầu, chúng tôi xin lưu ý rằng: bất cứ một loại thuốc nào bạn sử dụng trong thai kỳ, đặc biệt là kháng sinh, phải được bác sỹ kê đơn. Đừng tự ý sử dụng bất cứ một loại thuốc kháng sinh nào mà không được kê đơn của bác sỹ. Khi được bác sỹ kê đơn kháng sinh, hãy tuyệt đối tuân theo chỉ định của bác sỹ về liều dùng, thời gian sử dụng, cách sử dụng, các mẹ bầu nhé!
Chúc mẹ bầu có một thai kỳ khỏe mạnh.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Khi nào cần sử dụng kháng sinh?
Trung tâm Nghiên cứu – Viện Y học ứng dụng Việt Nam là một trong những tập thể được Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen vì đã có thành tích hành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn 2024-2025.
Thừa cân, béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Duy trì cân nặng khỏe mạnh giúp phụ nữ chủ động giảm nguy cơ.
Chế độ ăn uống của bạn có thể ảnh hưởng đến các triệu chứng u xơ tử cung nhiều hơn bạn nghĩ. Thực phẩm giàu chất xơ, axit béo omega-3, vitamin D và sắt có thể giúp hỗ trợ kiểm soát các triệu chứng.
Trong cuộc chiến chống lại béo phì, các loại thuốc mới hiện nay đang liên tục tạo ra những tiếng vang lớn, trở thành những công cụ đắc lực. Trong đó, một loại hormone được phát hiện từ 30 năm trước mang tên Leptin đang quay trở lại và hứa hẹn trở thành một vũ khí giúp tăng cường sức mạnh cho các liệu pháp giảm cân hiện tại.
Các món ăn nhẹ giàu dinh dưỡng tốt cho tim mạch có thể giúp giảm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim.
Hiện tượng đỏ mặt do niacin, một hiện tượng vô hại, xảy ra khi da bị đỏ do lượng vitamin B3 cao, thường kéo dài từ 30 đến 90 phút. Mặc dù có thể gây khó chịu, nhưng nhìn chung đây không phải là vấn đề đáng lo ngại.
Viên uống bổ sung magie glycinate đã trở thành một phương pháp phổ biến để cải thiện giấc ngủ. Tuy nhiên, một số người cho rằng họ đã bị nghiện loại thực phẩm chức năng này và không thể ngủ ngon nếu thiếu nó.
Người tăng huyết áp, người rối loạn mỡ máu có sử dụng được mỡ lợn hay không và dùng thế nào cho an toàn?