Các bệnh tim mạch không nên đi máy bay
Trường hợp bệnh nhân tim mạch không được đi máy bay gồm:
Suy tim mất bù: Các bệnh nhân suy tim nặng không nên đi máy bay, mà nên đợi cho đến khi được điều trị tốt, suy tim bớt đi hoặc ổn định, trừ khi được bố trí ngồi ở khoang có điều hòa ổn áp và có phương tiện đảm bảo cung cấp ôxy 100% trong suốt thời gian bay.
Các bệnh nhân có bệnh van tim: Nếu bay ở độ cao trên 2.400-2.800m cũng đòi hỏi phải được ngồi ở khoang có điều hòa ổn áp và cung cấp đủ ôxy.
Nhồi máu cơ tim: Các bệnh nhân không nên đi máy bay trong vòng 6 tuần đầu tiên sau khi bị nhồi máu cơ tim (giai đoạn hồi phục). Còn những bệnh nhân đã hồi phục và ổn định, tự đi lại được thì có thể đi máy bay như người bình thường.
Ðau thắt ngực (do thiếu máu cơ tim): Những người bị đau thắt ngực hoặc đau thắt ngực không ổn định được khuyên không nên đi máy bay. Còn những người bị đau thắt ngực nhẹ hoặc vừa thì có thể được phép đi máy bay nhưng tốt nhất nên ở trong các khoang có điều hòa ổn áp và có ôxy.
Những bệnh nhân mắc các bệnh sau đây không được đi máy bay: Mới bị tắc mạch máu (dưới 4 tuần) hoặc có tiền sử dễ bị tắc mạch, mới bị tai biến mạch máu não (dưới 2 tuần), tăng huyết áp nặng.
Những trường hợp và điều kiện có thể đi máy bay: bệnh tim mất bù nhưng đã điều trị hợp lý, tim đã được bù; hoặc bệnh nhân được đi trên máy bay trang bị phương tiện tạo áp suất ôxy 100% suốt chuyến bay; bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, đã phục hồi và không có triệu chứng từ 6 tuần trở lên; các trường hợp đau thắt ngực nhẹ hay vừa có thể cho đi máy bay, nhất là máy bay có thiết bị tạo áp suất và có ôxy; các bệnh van tim hoặc tim còn bù khác: bệnh nhân chỉ được phép bay ở độ cao từ 2.400-2.800m.
Nếu muốn bay ở độ cao cao hơn thì máy bay phải được trang bị phương tiện tạo áp suất và cho bệnh nhân thở ôxy từ độ cao 2.400m trở lên; bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch sâu cho đến khi liệu pháp chống đông máu đã ổn định và không có các biến chứng phổi thì có thể đi máy bay. Lưu ý rằng các chuyến bay đường dài làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu và gây bệnh nghẽn mạch; vì vậy để phòng tránh, bệnh nhân cần phải kiêng rượu và thuốc lá, đồng thời dùng aspirin liều thấp, sử dụng bít tất hỗ trợ, vận động chi dưới và đi bộ trong khi bay.
Một số bệnh về hô hấp không nên đi máy bay
Những trường hợp không nên đi máy bay: bệnh nhân đang lên cơn hen; ở tình trạng hen nặng; bệnh nhân có nang phổi bẩm sinh; bệnh nhân bị lao đang hoạt động, lây nhiễm hoặc tràn khí màng phổi; khó thở khi nghỉ ngơi bị cấm bay; mức độ thiếu ôxy máu và tăng anhydrid carbonic nặng...
Các trường hợp bệnh hô hấp có thể đi máy bay là: viêm mũi xoang dị ứng và nhiễm khuẩn nhưng cần lưu ý là sau khi bay dễ phát triển bệnh viêm tai do áp lực khí. Để ngăn ngừa viêm tai do áp lực khí (barotitis), trong khi bay bệnh nhân nên nhai kẹo cao su, dùng thuốc chống ngạt mũi trước khi khởi hành 30 phút. Trước đó bệnh nhân cần dùng kháng sinh kiểm soát nhiễm khuẩn thích hợp và tránh ngủ lúc máy bay hạ xuống. Bệnh nhân hen nhẹ có thể đi máy bay bình thường.
Các trường hợp có bệnh hô hấp khác cần được đo chức năng hô hấp để đánh giá và quyết định cho từng trường hợp.
Các bệnh về máu
Những người bị thiếu máu nặng (hồng cầu dưới 3 triệu/ml hoặc huyết sắc tố dưới 80g/l) không nên đi máy bay.
Các bệnh nhân mắc bệnh có nguy cơ rất cao gây chảy máu như bệnh hay chảy máu (hemophilia), bệnh ung thư máu không được phép đi trên những chuyến bay thương mại.
Bệnh thần kinh - tâm thần
Tất cả những người mới bị chấn thương sọ não, mới phẫu thuật sọ não hoặc có u não đều không nên đi máy bay.
Các bệnh nhân tâm thần hoặc loạn thần, kích động không được phép đi trên những chuyến bay thường kỳ, ngay cả khi có nhân viên y tế đi kèm. Với những người quá lo lắng, cần được cho uống thuốc ngủ hoặc thuốc an thần trước và trong thời gian trên máy bay.
Bệnh nhân động kinh nếu được điều trị tốt, không còn cơn co giật thì được phép đi trên những chuyến bay ở độ cao không quá 6.800m.

Phụ nữ mang thai không nên đi máy bay.
Phụ nữ mang thai tháng cuối không nên đi máy bay
Bà bầu được phép đi máy bay như người bình thường trong vòng 8 tháng đầu, trừ những người có tiền sử dễ bị sinh non hoặc sẩy thai. Khuyến cáo phụ nữ có thai tháng thứ 9 không nên đi máy bay, trường hợp thật cần thiết phải được sự đồng ý của bác sĩ sản khoa. Trẻ sơ sinh 1 tuần tuổi không nên đi trên các chuyến bay có độ cao lớn và thời gian bay dài.
Bệnh nhân sau phẫu thuật không nên đi máy bay
Những trường hợp sau phẫu thuật hoặc sau chấn thương mắt, phải đi trên máy bay có cabin áp lực và liệu pháp ôxy để tránh tổn thương võng mạc do thiếu ôxy và bọt khí trong mắt. Bệnh nhân mới mổ không nên đi máy bay trong 10 ngày sau phẫu thuật bụng và 21 ngày sau phẫu thuật ngực; sau đó chỉ bay khi đã lành vết mổ và không phải dẫn lưu. Bệnh nhân phải mở thông đại tràng có thể đi máy bay miễn là không có mùi và các túi mở thông đại tràng đã thay mới trước khi bay. Bệnh nhân thoát vị bẹn hay thoát vị đùi to, không đỡ bằng băng treo hoặc bó thì không cho đi máy bay nếu máy bay không có thiết bị tăng áp lực vì tăng nguy hiểm nghẹt ruột thoát vị.
Lưu ý: Trong tất cả các trường hợp, nếu nghi ngờ mình có bệnh và có thể bị ảnh hưởng khi đi máy bay (nhất là những chuyến bay xa, kéo dài) thì nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc các chuyên gia y tế hàng không.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Huyết khối tĩnh mạch sâu khi đi máy bay
Dầu cá là một loại thực phẩm bổ sung được ưa chuộng cho sức khỏe tim mạch. Dầu cá chứa nhiều axit béo omega-3 như EPA và DHA, được biết đến với lợi ích chống viêm và khả năng giảm triglyceride. Nhưng còn cholesterol thì sao? Việc bổ sung dầu cá vào chế độ ăn uống có giúp ích hay gây hại cho chỉ số cholesterol của bạn? Dưới đây là những gì xảy ra với cholesterol của bạn khi bạn bắt đầu sử dụng dầu cá, theo nghiên cứu mới nhất.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Việc thức xuyên đêm để theo dõi các trận bóng đá đỉnh cao là thói quen quen thuộc của nhiều người hâm mộ, nhưng hành động xem tivi hoặc điện thoại liên tục trong nhiều giờ lại tiềm ẩn vô số hệ lụy cho thị lực. Thói quen này dễ dẫn đến các tình trạng tổn thương mắt nghiêm trọng với những triệu chứng khó chịu như ê nhức, đỏ rát và khô mờ. Để có thể vừa cháy hết mình cùng niềm đam mê, vừa bảo vệ và gìn giữ được đôi mắt luôn sáng khỏe, người xem cần biết cách chăm sóc, nghỉ ngơi và bảo vệ mắt hợp lý theo những chia sẻ, khuyến nghị Viện Y học ứng dụng Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.