Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Sỏi mật do đâu mà có?

Sỏi mật gặp chủ yếu ở người trưởng thành, tuổi càng cao, càng dễ mắc; nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Nếu không chữa trị dứt điểm gây biến chứng nguy hiểm.

Sỏi mật do đâu mà có?

Sỏi mật tức là đường dẫn mật có sỏi. Đường dẫn mật bao gồm các đường mật trong gan, ngoài gan, ống mật chủ và túi mật. Túi mật gồm có cổ và thân. Một người nào đó có thể bị sỏi mật ở một hoặc nhiều vị trí khác nhau của đường mật.

Nguyên nhân

Mật do gan sản xuất ra. Vì vậy, đường dẫn mật bắt nguồn từ trong gan đi ra ống mật chủ, đa phần dịch mật tích trữ vào túi mật và bài tiết dần xuống ruột qua bóng Vater xuống tá tràng (nơi lỗ đổ của ống mật chủ và ống tụy chính xuống tá tràng).

Có nhiều nguyên nhân gây nên sỏi mật. Sỏi mật sẽ được hình thành khi có sự mất cân bằng giữa các thành phần này. Trong khi đó, chất cholesterol được giữ giới hạn bình thường là do nó hòa tan được trong muối mật.

Chừng nào có sự gia tăng số lượng cholesterol làm mất khả năng hòa tan đó sẽ dẫn tới hình thành sỏi mật (sỏi cholesterol).  Đây được xem là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự hình thành và phát triển của sỏi mật, sẽ xảy ra khi có các bệnh lý tại gan (suy giảm chức năng gan) hoặc cung cấp quá nhiều cholesterol trong chế độ ăn hàng ngày.

Nếu suy giảm chức năng gan, sẽ tạo ra quá nhiều cholesterol hoặc ngược lại quá ít lecithin và axít mật, khi đó cholesterol sẽ không được hòa tan hết và lâu dần kết tụ lại thành sỏi.

Bên cạnh đó, nếu chế độ ăn quá nhiều cholesterol trong chế độ ăn hàng ngày, cũng sẽ dẫn tới dư thừa cholesterol ở trong dịch mật và tạo nên sỏi.

Ngược lại, số lượng cholesterol bình thường nhưng số lượng muối mật bị suy giảm vì một lý do nào đó (viêm nhiễm đường mật...) cũng làm cho sự hòa tan của cholesterol ảnh hưởng, lúc đó sự hình thành sỏi mật do sự mất cân bằng các thành phần trong dịch mật xảy ra.

Sỏi mật do đâu mà có?

Một số nguyên nhân khác như: bệnh của đường ruột (viêm ruột mạn tính, bệnh lý hồi tràng…) sẽ làm giảm hấp thu các axít mật, hoặc sử dụng thuốc tránh thai kéo dài cũng làm tăng nguy cơ mắc sỏi mật (vì chúng làm tăng nồng độ cholesterol và giảm sự co bóp của túi mật).

Song song với sự gia tăng cholesterol làm xuất hiện sỏi mật, nếu có quá nhiều bilirubin ở trong dịch mật cũng sẽ hình thành sỏi mật. Các nhà khoa học còn đề cập đến nguyên nhân do giảm vận động đường mật (ngồi nhiều, ít vận động cơ thể ở người lái xe chuyên nghiệp, cán bộ văn phòng, người cao tuổi…) khiến cho dịch mật bị ứ trệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần ở trong dịch mật lắng đọng và kết tụ thành sỏi.

Hoặc sỏi mật có thể do chế độ ăn kiêng khem quá mức, hoàn toàn vắng mặt chất béo trong một thời gian dài làm giảm các cơn co bóp của túi mật hoặc do nuôi ăn qua đường tĩnh mạch dài ngày hoặc do viêm túi mật mạn tính hoặc thường xuyên sử dụng thuốc làm giảm co bóp cơ trơn như atropin, papaverin (bệnh dạ dày, bệnh gan mật, sỏi tiết niệu…). Tất cả những việc đó đều có thể làm giảm chức năng co bóp của túi mật dẫn đến hình thành sỏi mật.

Ngoài ra, còn có khá nhiều yếu tố thuận lợi thúc đẩy hình thành sỏi mật như do tuổi tác (tuổi càng cao khả năng hình thành sỏi mật càng dễ) hoặc do sinh đẻ nhiều (phụ nữ), béo phì  hoặc do táo bón kéo dài (gặp nhiều ở người cao tuổi do ngại uống nước, ít ăn rau, ít vận động cơ thể).

Táo bón kéo dài còn tạo điều kiện cho vi khuẩn, ký sinh trùng đường ruột phát triển và chúng đi ngược lên tá tràng chui vào đường dẫn mật gây viêm nhiễm, lắng đọng muối mật, cholesterol, từ đó sẽ hình thành sỏi mật. Nên lưu ý, giun chui ống mật là một nguyên nhân đáng kể hình thành sỏi mật. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng, không có một yếu tố chắc chắn nào gây nên sỏi mật, mà nó có thể được hình thành bởi sự phối hợp của nhiều nguyên nhân.

Siêu âm là phương pháp rất có giá trị trong chẩn đoán

Triệu chứng

Bệnh điển hình sẽ có đau bụng đột ngột, dữ dội xuất hiện. Vị trí đau là vùng hạ sườn phải hoặc thượng vị lêch sang phải, lan lên vai phải hoặc sau lưng, đau bụng làm cho người bệnh lăn lộn trên giường, cũng có thể đau làm người bệnh không dám thở mạnh. Trong trường hợp không điển hình, đau chỉ âm ỉ hoặc tức nặng ở hạ sườn phải, hoặc vùng thượng vị lệch phải và lan lên ngực rất dễ nhầm với hội chứng dạ dày.

Trường hợp có nhiễm trùng đường mật sẽ xuất hiện sốt cao, có thể có rét run nhưng đôi khi chỉ sốt nhẹ, sốt thường đi kèm với đau, có khi sốt kéo dài, nhất là ở người tuổi cao, sức yếu do phản xạ đã kém. Khi bị tắc đường mật trong hoặc ngoài gan sẽ có vàng da, niêm mạc (lưỡi, mắt…). Vàng da có thể nhẹ (tắc ít) hoặc vàng đậm do tắc mật nặng tùy theo mức độ mật bị tắc ít hay nhiều. Thông thường ba triệu chứng đau, sốt, vàng da xuất hiện một cách tuần tự.

Để chẩn đoán bệnh, ngoài ba triệu chứng điển hình (đau, sốt, vàng da), cần xét nghiệm công thức máu (bạch cầu tăng cao), xét nghiệm sinh hóa gan mật (bilirubin tăng cao), xét nghiệm nước tiểu. Bên cạnh đó cần siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Riêng sỏi túi mật, siêu âm là phương pháp rất có giá trị trong chẩn đoán đồng thời rẻ tiền và nhanh chóng có kết quả.

Biến chứng do sỏi mật

Biến chứng đáng lo ngại nhất là viêm đường dẫn mật, trong đó viêm túi mật cấp hoặc vỡ túi mật do sỏi là nguy hiểm hơn cả, bởi vì, nếu vỡ túi mật, không phát hiện và xử trí kịp thời có thể thấm mật phúc mạc gây viêm phúc mạc - mật rất nguy hiểm đến tính mạng (sốc nhiễm trùng). Sỏi đường dẫn mật có thể gây thủng, sỏi vào tụy tạng, ruột non diễn biến rất phức và nguy kịch.

Nguyên tắc điều trị

Khi nghi ngờ bị sỏi mật  cần đi khám bệnh để được xác định trên cơ sở các kết quả thu được, bác sĩ sẽ có hướng điều trị. Điều trị sỏi mật trước tiên là điều trị nội khoa (dùng thuốc), ngay cả khi có viêm nhiễm đường mật, nhất là đối với người cao tuổi, sức khỏe yếu. Nếu điều trị nội khoa không khỏi, có thể phải hội chẩn để điều trị ngoại khoa (phẫu thuật) nhằm hạn chế biến chứng. Ngày nay, mổ lấy sỏi mật bằng phương pháp nội soi có nhiều ưu điểm.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để không bị sỏi mật, cần ăn uống hợp vệ sinh, an toàn vệ sinh thực phẩm tốt, vệ sinh môi trường sạch sẽ là góp phần đáng kể ngăn ngừa mắc các bệnh về đường ruột và bệnh sỏi mật. Nên tẩy giun định kỳ 6 tháng một lần.

Cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý, hạn chế ăn mỡ động vật và các loại thực phẩm có khả năng làm tăng mỡ máu (thịt đỏ, tôm, mỡ, phủ tạng động vật…). Nên vận động cơ thể đều đặn hàng ngày, tránh ngồi lâu. Nếu bị mỡ máu cao cần tích cực điều trị theo chỉ định của bác sĩ khám bệnh cho mình.

Khi đã xác định mắc bệnh sỏi mật cần điều trị tích cực theo đơn thuốc của bác sĩ, không tự động bỏ thuốc hay thay thuốc, không được tự mua thuốc để điều trị và cần tái khám theo lời dặn của bác sĩ. Khi thấy có điều bất thường cần đi khám bệnh ngày.

PGS.TS.BS. BÙI KHẮC HẬU - Theo Sức khỏe và Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 03/11/2026

    Tác hại của việc ăn đêm với sức khỏe

    Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.

  • 03/11/2026

    Sởi và Rubella trong mùa đông

    Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.

  • 02/11/2026

    Tình trạng mất cơ khi dùng thuốc GLP-1: Những điều cần biết

    Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.

  • 02/11/2026

    Cúm, COVID-19, viêm phổi và RSV – 4 bệnh truyền nhiễm dễ bùng phát khi trời lạnh

    Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.

  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

Xem thêm