Tiền sản giật là gì?
Tiền sản giật là một trong năm biến chứng thai kì, được đặc trưng bởi 3 tình trạng sau:
Tiền sản giật ảnh hưởng tới khoảng 5-8% phụ nữ mang thai. Mỗi năm, tiền sản giật gây ra 60.000 ca tử vong mẹ.
Hậu quả của tiền sản giật: Hơn một nửa số phụ nữ bị tiền sản giật phải sinh mổ. Hội chứng này cũng làm tăng nguy cơ tử vong chu sinh gấp 5 lần. Rất nhiều các nghiên cứu đã chứng minh rằng những phụ nữ bị tiền sản giật sẽ gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, bệnh cao huyết áp mạn tính, kháng Insulin và rối loạn mỡ máu sau này.
Tiền sản giật cũng có thể gây ra sản giật, dẫn đến co giật ở người mẹ và là nguyên nhân thứ hai gây tử vong mẹ. Đối với thai nhi, tiền sản giật ngăn cản cung cấp máu và oxy cho thai, dẫn đến chậm phát triển trong tử cung, cân nặng khi sinh thấp và sinh non.
Yếu tố nguy cơ của tiền sản giật: Những đối tượng có nguy cơ cao bị tiền sản giật bao gồm:
Dự phòng và điều trị tiền sản giật: Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này nhưng đến nay vẫn chưa ai biết chắc làm thế nào để phòng tránh tiền sản giật. Sinh con là phương pháp điều trị tiền sản giật duy nhất, do tiền sản giật chỉ biến mất sau khi sinh. Nếu mang thai đủ 37 tuẩn trở lên, các bác sỹ sẽ kích thích chuyển dạ để làm giảm nguy cơ tiền sản giật. Các phương pháp điều trị tiền sản giật có thể bao gồm: dưỡng thai trên giường, ăn ít muối, uống nhiều nước, tới khám bác sĩ thường xuyên và/hoặc kê đơn thuốc hạ huyết áp.
Sôcôla đen và tác động giảm nguy cơ tiền sản giật
Tăng huyết áp chính là một yếu tố nguy cơ của tiền sản giật. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng thường xuyên tiêu thụ sôcôla, đặc biệt là sôcôla đen, có tác dụng làm giảm huyết áp, kháng insulin, triglyceride huyết thanh, phản ứng mạch máu, rối loạn chức năng nội mô, các gốc oxy hóa, các chỉ số chứng viêm, và hoạt tính kháng tiểu cầu. Qua đó, sôcôla có tác dụng làm giảm nguy cơ bị tiền sản giật.
Flavanol là một loại flavonoid có nhiều nhất trong sôcôla đen, là chất chống oxy hóa có khả năng gây giãn mạch. Sôcôla giàu flavanol có ảnh hưởng tốt trên chức năng của nội mô và làm giảm huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương. Theobromine, một thành phần chính của sôcôla đen, cũng có tác dụng giãn mạch.
Một nghiên cứu được thực hiện bởi Audrey F. Saftlas và các cộng sự được tiến hành trên 2.508 phụ nữ có thai. Kết quả cho thấy những phụ nữ tiêu thụ trên 1-3 bữa sôcôla mỗi tuần giảm trên 50% nguy cơ bị tiền sản giật. Tỉ lệ bị tiền sản giật cao nhất (4,5%) xuất hiện ở những phụ nữ không ăn hoặc ăn ít sôcôla trong 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thai kì.Thời điểm ăn sôcôla không tạo nên sự khác biệt. Ăn sôcôla thường xuyên trong 3 tháng đầu và 3 tháng cuối có hiệu quả bảo vệ chống lại tiền sản giật như nhau
3 tháng đầu và 3 tháng cuối là hai “cửa sổ quan trọng” trong quá trình hình thành tiền sản giật. Các biểu hiện của tiền sản giật thường xuất hiện trong 3 tháng cuối thai kỳ, nhưng nguyên nhân của những biểu hiện này lại bắt nguồn từ những khiếm khuyết của nhau thai xảy ra từ 3 tháng đầu. Khiếm khuyết nhau thai sẽ dẫn đến kết quả là sự oxy hóa nhau thai và các yếu tố gây viêm được giải phóng, dẫn đến gián đoạn nội mô mạch máu và hình thành các triệu chứng tiền sản giật.
Sôcôla có chứa nhiều flavanol đã được chứng minh rằng có thể cải thiện chức năng nhau thai và làm giảm nguy cơ tiền sản giật. Nghiên cứu năm 2016 được thực hiện trên 129 phụ nữ mang thai được lựa chọn ngẫu nhiên sử dụng loại sôcôla có lượng flavanol thấp hoặc cao. Có tổng cộng 30 gam sôcôla được tiêu thụ mỗi ngày trong vòng 12 tuần. Siêu âm Doppler được thực hiện vào cuối tuần thứ 12 và những phụ nữ này sẽ được theo dõi cho đến khi sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy sôcôla có thể có tác động tích cực lên nhau thai và sự phát triển của thai nhi ở cả hai nhóm so với những người không sử dụng; do đó làm giảm nguy cơ của tiền sản giật.
Mặc dù cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa về tác dụng của sôcôla với phụ nữ có thai nhưng những kết quả trên đã cho thấy những lợi ích của việc tiêu thụ một lượng sôcôla hợp lí trong thai kì có thể giúp làm giảm nguy cơ bị tiền sản giật.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.
Các bậc cha mẹ luôn muốn điều tốt nhất cho con cái của mình. Đó là lý do tại sao rất nhiều bậc cha mẹ phải vật lộn với những lựa chọn nuôi dạy con. Và xét cho cùng, chúng ta cũng chỉ là con người, việc cảm thấy bực bội với con cái là điều bình thường, đặc biệt là khi chúng cư xử không đúng mực. Nhưng cách bạn thể hiện sự bực bội và giải quyết tình huống có thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách và sức khỏe lâu dài của trẻ. Cùng đọc tiếp để tìm hiểu xem các nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện ra về tác động lâu dài của việc la mắng đối với trẻ em!
Rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, cân nặng, chu kỳ kinh nguyệt và tâm trạng. Bên cạnh điều trị y khoa, một số loại trà được nghiên cứu cho thấy có thể hỗ trợ điều hòa hormone ở mức độ nhất định.
Trong xu hướng tìm kiếm các hợp chất tự nhiên để hỗ trợ sức khỏe, Kim ngân hoa nổi lên như một nguyên liệu tiềm năng nhờ khả năng can thiệp vào các lộ trình tín hiệu liên quan đến stress oxy hóa và viêm.