Có bao nhiêu trường hợp mang thai sẽ kết thúc bằng việc sảy thai?
Sảy thai có thể xảy ra với khoảng 50% số trường hợp mang thai từ trước khi người phụ nữ biết mình mang thai. Số trường hợp đã biết mình mang thai, nhưng sau đó bị sảy chỉ chiếm khoảng 10-15%. Có khoảng 15% số trường hợp sảy thai xảy ra ở 3 tháng giữa thai kỳ, tức là từ tuần thứ 13 đến tuần thứ 19. Sảy thai ở giai đoạn này còn được gọi là sảy thai muộn. Sảy thai sau 20 tuần được gọi là thai chết lưu và không được tính vào trong các số liệu thống kê về sảy thai.
Sau khi sảy thai ở những lần trước, bạn hoàn toàn vẫn có thể mang thai khoẻ mạnh ở những lần sau, và điều này là hoàn toàn bình thường. Bạn cần hiểu rõ điều này và không bị cảm xúc gây ảnh hưởng trong quá trình này. Số lượng các ca tử vong trong khi mang thai do nạo hút, hoặc sử dụng thuốc để phá thai cũng không được tính trong các con số thống kê dưới đây.
Tại sao lại bị sảy thai?
Đa số các trường hợp sảy thai sẽ xảy ra trong 3 tháng đầu thai kỳ, tức là trước 13 tuần, tỷ lệ này chiếm tới 80-85% tổng số ca sảy thai. Trong số đó, đa số các ca sảy thai sẽ xảy ra trong vòng 7 tuần mang thai đầu tiên.
Nguy cơ sảy thai sẽ cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc vào giai đoạn mang thai, phụ thuộc vào nhiều yếu tố của mẹ cũng như của thai nhi. Sảy thai giai đoạn sớm có thể là do các yếu tố về gen, ví dụ như bất thường nhiễm sắc thể của thai nhi. Các yếu tố gây sảy thai sớm thường sẽ không thể kiểm soát được.
Tỷ lệ sảy thai theo từng tuần là bao nhiêu?
Tỷ lệ sảy thai rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tỷ lệ sảy thai theo từng tuần thai, theo một số thống kê trong các nghiên cứu tại Mỹ như sau:

Tỷ lệ sảy thai theo tuổi mẹ
Tỷ lệ sảy thai thường sẽ tăng lên theo tuổi mẹ. Suy giảm chất lượng trứng sẽ tăng lên theo tuổi là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ sảy thai cao khi phụ nữ cao tuổi. Chất lượng trứng cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về gen do các bất thường về nhiễm sắc thể. Tỷ lệ sảy thai theo từng tuổi được thống kê dưới đây:
Những tỷ lệ này chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào tuổi mẹ. Tuy nhiên, còn nhiều yếu tố khác, ví dụ như bệnh mạn tính, lối sống và thay đổi hormone cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sảy thai.
Tỷ lệ sảy thai và thụ tinh nhân tạo
Tỷ lệ sảy thai sớm chiếm khoảng 10-25% tổng số chu kỳ thụ tinh nhân tạo và chuyển phôi. Tỷ lệ sảy thai sau khi tiến hành thủ thuật thụ tinh nhân tạo có thể sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc, tâm lý và tài chính của các cặp vợ chồng vì điều đó đồng nghĩa với việc thụ tinh nhân tạo thất bại và sẽ phải tiến hành lại chu kỳ thụ tinh mới. Sảy thai là tình trạng phôi thai đã làm tổ được vào tử cung. Mang thai hoá học (sảy thai sau khi thử thai dương tính) cũng được cho là một tín hiệu khả quan cho thấy bạn có thể mang thai được.
Tỷ lệ sảy thai nhiều lần
Sảy thai nhiều lần là tình trạng sảy thai diễn ra liên tiếp trong 3 lần mang thai và sảy thai trước 20 tuần. Khoảng 1-2% số phụ nữ sẽ bị sảy thai nhiều lần và tình trạng này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến thể chất và tinh thần của nhiều cặp đôi. Sảy thai nhiều lần có thể do các yếu tố vè gen, do bệnh tự miễn, nhiễm trùng, các vấn đề về giải phẫu hoặc do các yếu tố chưa biết đến. Nếu bạn gặp phải tình trạng sảy thai nhiều lần, bạn nên đến gặp các chuyên gia, bác sĩ để tìm ra nguyên nhân và cách điều trị, giúp bạn sẽ có những thai kỳ khoẻ mạnh trong tương lai.
Tỷ lệ sảy thai sau khi đã có tim thai
Tỷ lệ sảy thai sẽ giảm xuống sau khi đã có tim thai trên siêu âm. Một số nghiên cứu gợi ý rằng tỷ lệ sảy thai có thể giảm khoảng 10% khi đã phát hiện ra tim thai. Nhiều phụ nữ sẽ không để ý tới nhịp tim thai cho đến lần siêu âm đầu tiên (khoảng tuần thứ 11-12). Tuy nhiên, những người điều trị vô sinh có thể sẽ cần siêu âm sớm hơn để phát hiện nguy cơ sảy thai dựa vào tim thai.
Khi nào tỷ lệ sảy thai sẽ giảm xuống?
Tỷ lệ sảy thai theo tuần sẽ giảm đi khi thai kỳ phát triển. Tỷ lệ sảy thai sẽ bắt đầu giảm xuống khi phát hiện thấy tim thai, tức là quanh khoảng tuần thứ 7 của thai kỳ. Tuy nhiên, tỷ lệ sảy thai chỉ giảm đi rõ rệt sau 12 tuần của thai kỳ. Giảm tỷ lệ sảy thai cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nguy cơ khác. Ví dụ, các bất thường về nhiễm sắc thể có thể dẫn đến sảy thai sớm, trong khi các yếu tố về mẹ ví dụ như bị xơ nang có thể dẫn đến sảy thai muộn.
Nên làm gì khi bị sảy thai?
Bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ, đặc biệt là bác sĩ sản khoa nếu bạn bị sảy thai. Bác sĩ có thể sẽ cung cấp các sự điều trị phù hợp để giúp bạn tìm ra nguyên nhân sảy thai và phòng tránh trong những lần tiếp theo. Trong một số trường hợp các mô thai sẽ không được tống ra hết trong quá trình sảy thai. Bạn sẽ cần siêu âm để xem xem các mô thai đã được tống ra hết chưa. Nếu vẫn còn mô thai trong tử cung, bác sĩ có thể tiến hành một số thủ thuật để loại bỏ những mô thai này và tránh biến chứng.
Ra máu nặng và các dấu hiệu nhiễm trùng có thể sẽ cần phải cấp cứu do tình trạng này có thể đe doạ tính mạng. Bác sĩ cũng có thể gợi ý các biện pháp dự phòng, như truyền yếu tố miễn dịch Rh nếu bạn thuộc nhóm máu Rh(-) để tránh các vấn đề xảy ra ở những lần mang thai tiếp theo.
Thời gian hồi phục sau khi bị sảy thai và có chu kỳ kinh nguyệt trở lại bình thường có thể sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào từng phụ nữ, phụ thuộc vào giai đoạn mang thai và tình trạng sức khoẻ. Bạn nên tham khảo ý kiến chuyên gia khi có kế hoạch mang thai lần tiếp theo và nên cân nhắc sử dụng các loại vitamin dành cho bà bầu sớm trước khi mang thai.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều bạn cần biết về IVF và các phương pháp điều trị vô sinh
Trong y học hiện đại, việc chẩn đoán chính xác bệnh lý ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố sống còn. Để làm được điều này, các bác sĩ thường nhờ đến sự trợ giúp của một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiên tiến bậc nhất hiện nay: Chụp cộng hưởng từ, hay còn gọi là MRI. Dù thuật ngữ này khá quen thuộc, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như những gì cơ thể sẽ trải qua trong phòng chụp.
Giấc ngủ là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Không chỉ giúp cơ thể phục hồi năng lượng, chất lượng và thời lượng giấc ngủ còn ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể.
Tai nạn đuối nước thường có xu hướng gia tăng vào mùa hè, khi mọi người tìm đến các ao, hồ, sông, suối hay bãi biển để giải nhiệt, nguy hiểm hay gặp nhất là trẻ em. Khi không may xảy ra sự cố, việc sơ cứu kịp thời và đúng cách ngay trong "khoảng thời gian vàng" từ 1-4 phút đầu tiên là yếu tố cốt lõi giúp nạn nhân có cơ hội bình phục tốt hơn, đồng thời hạn chế tối đa biến chứng. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn chi tiết dựa trên các nguyên tắc y khoa chuẩn, vai trò của hô hấp nhân tạo và các biện pháp hỗ trợ.
Các loại thức uống tăng cường sức khỏe, như loại làm từ gừng và nghệ, là những thức uống nhỏ đậm đặc giúp tăng cường năng lượng, cải thiện hệ miễn dịch và hỗ trợ tiêu hóa. Chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất và có thể được pha chế tại nhà, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về lợi ích của chúng.
Lợi ích của việc giữ đủ nước cho cơ thể đối với sức khỏe và tinh thần được biết đến rộng rãi. Nhiệt độ nước cũng có tác động lớn, đặc biệt là uống nước nóng có thêm lợi ích là tăng cường tuần hoàn máu và hỗ trợ tiêu hóa. Để tối đa hóa những lợi ích này, có những thời điểm nhất định trong ngày nên uống nước nóng (50-70 độ C) để bổ sung nước.
Tắm nước đá có thể giúp giảm đau cơ, cải thiện quá trình phục hồi sau khi tập luyện bằng cách giảm viêm và sưng, cải thiện sức khỏe chung. Tắm nước đá có nhiều cách, hiệu quả cũng khác nhau tùy mục tiêu mong muốn, khuyến cáo chung nên ngâm mình trong nước đá khoảng 10 đến 15 phút để đạt được những lợi ích tiềm năng.
Cứ mỗi dịp hè đến với cái nắng oi ả, cũng là thời điểm số vụ tai nạn sông nước gia tăng đáng báo động, trở thành mối hiểm họa khôn lường cho cả người lớn và trẻ em. Để bảo vệ sự an toàn cho cộng đồng và giảm thiểu những thương tâm không đáng có, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cần thiết và khoa học dưới đây, giúp bạn chủ động trang bị các giải pháp bảo vệ toàn diện và bảo vệ bản thân cùng gia đình một cách hiệu quả nhất.
Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí y khoa quốc tế cho thấy, việc bổ sung vitamin D3 liều cao trong thời kỳ mang thai có thể mang lại lợi ích vượt trội cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ.