Sốt xuất huyết có thể gây suy nhược cơ thể. Sốt cùng với các triệu chứng khác như mệt mỏi, đau khớp là những dấu hiệu phổ biến nhất của bệnh sốt xuất huyết. Các triệu chứng này đều có thể được điều trị và kiểm soát tại nhà. Tuy nhiên, một số triệu chứng nghiêm trọng có thể cần được chăm sóc y tế. Tương tự với sốt xuất huyết thì sốt virus cũng đáng lo ngại, sốt có thể đi kèm với các triệu chứng như ớn lạnh và đau nhức cơ thể, nhưng hầu hết tình trạng này thường sẽ kéo dài từ ba đến năm ngày.
Mặc dù cả bệnh sốt xuất huyết và sốt virus thông thường đều có thể có chung một số dấu hiệu, triệu chứng nhưng xét về mức độ nghiêm trọng, thì sốt xuất huyết thường khiến chúng ta lo ngại hơn và có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm vậy nên việc phân biệt giữa hai loại sốt này trở nên quan trọng.
Sốt là một dấu hiệu phổ biến thường gặp của một số bệnh
Như đã biết, sốt có thể là dấu hiệu của bất cứ bệnh gì. Nhiễm trùng do virus hoặc vi khuẩn, bệnh đường hô hấp như cúm, cảm lạnh thông thường, COVID-19, say nắng say nóng, hoặc thậm chí sốt có thể là một dấu hiệu nguy hiểm khi bạn xuất hiện một khối u ác tính. Rất khó để biết được nguyên nhân đã kích hoạt cơn sốt của bạn và bạn cần xem xét các triệu chứng đi kèm với sốt để phân biệt giữa các bệnh
Sốt là một phản ứng của cơ thể đối với một tác nhân lạ, virus hoặc bất cứ thứ gì khiến nhiệt độ của cơ thể tăng lên. Đó là dấu hiệu cho thấy có điều gì đó không ổn với cơ thể bạn và cần được chú ý.

Làm thế nào để phân biệt giữa sốt xuất huyết và sốt virus
Sốt có thể là triệu chứng khởi phát đầu tiên của hầu hết tất cả các bệnh làm thân nhiệt tăng cao. Cả bệnh sốt xuất huyết và bệnh nhiễm virus thông thường đều có thể gây ra sốt như nhau. Tuy nhiên, do các ca sốt xuất huyết đã gia tăng trong thời gian gần đây và việc phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm trở nên quan trọng hơn.
Trong khi sốt virus lây truyền qua không khí, do các giọt bắn từ người bị bệnh hoặc do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus, thì sốt xuất huyết là kết quả của muỗi đốt ( muỗi gây bệnh sốt xuất huyết là muỗi Aedes Aegypti). Sốt virus có thể kéo dài 3-5 ngày, trong khi sốt xuất huyết có thể kéo dài từ 2-7 ngày, thậm chí có thể kéo dài nếu không được điều trị kịp thời.
Ngoài ra, sốt virus có tính truyền nhiễm và có thể truyền từ người này sang người khác. Mặt khác, bệnh sốt xuất huyết không thể lây truyền qua đường tiếp xúc và không lây qua đường không khí.
Sốt xuất huyết thường gây sốt cao
Sốt virus thường không nghiêm trọng bằng bệnh sốt xuất huyết. Sốt virus thông thường có thể kèm theo các triệu chứng như sổ mũi, đau họng, đau cơ thể nhẹ, suy nhược, trong khi sốt xuất huyết có thể bị sốt cao, đau nhức cơ thể dữ dội, đau khớp và phát ban trong vòng 24 - 48 giờ sau khi sốt.
Số lượng tiểu cầu thấp có thể là một dấu hiệu đặc trưng của bệnh sốt xuất huyết
Cách tốt nhất và chắc chắn để xác định bạn có bị sốt xuất huyết không là làm xét nghiệm công thức máu và xét nghiệm kháng nguyên NS1 sốt xuất huyết. Các chuyên gia thống kê khoảng 80 - 90% bệnh nhân sốt xuất huyết sẽ có số lượng tiểu cầu thấp hơn 100.000 tế bào trên mỗi microlit máu, trong khi 10 - 20% trường hợp còn lại tiểu cầu có thể giảm sâu xuống mức 20.000 tế bào trên mỗi microlit máu hoặc ít hơn.
Những người bị sốt virus sẽ không bị các biến chứng như vậy. Tuy nhiên, số lượng tiểu cầu trong máu giảm thấp có thể là dấu hiệu của các bệnh khác. Tốt nhất là bạn nên đến bệnh viện để được kiểm tra đánh giá
Việc phát triển vaccine phòng bệnh sốt xuất huyết vẫn đang được tiến hành, nên việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa là cách tốt nhất để bạn tránh bị muỗi đốt cũng như phòng bệnh sốt xuất huyết. Ngoài việc thực hành tốt vệ sinh cá nhân, bạn cần phải nhớ làm sạch và khử trùng các nguồn nước đọng, tránh để đọng nước, mặc quần áo dài và sử dụng thuốc chống muỗi khi cần thiết.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Xử trí đúng cách khi trẻ sốt cao
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.