Viêm khớp dạng thấp hay còn gọi là viêm đa khớp dạng thấp, là một bệnh lý mạn tính do rối loạn tự miễn trong cơ thể gây nên, xảy ra khi hệ thống miễn dịch tấn công nhầm vào các mô trong chính cơ thể. Bệnh gây viêm (đỏ, sưng) dẫn đến đau, xơ cứng và sưng khớp, phần lớn là khớp tay, khớp lưng, khớp bàn chân và khớp gối. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở nữ giới sau 30 tuổi.
Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi

Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến niêm mạc khớp của bạn, gây sưng đau dẫn đến xói mòn xương và biến dạng khớp ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt hàng ngày và xảy ra ở bất kỳ ai ở mọi lứa tuổi. Mặc dù vậy viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn, gấp hai đến ba lần so với nam giới. Các chuyên gia cho biết bệnh thường gặp nhiều hơn ở những bệnh nhân nữ từ 20 đến 40 tuổi và sau 60 tuổi, đặc biệt là phụ nữ trong thời kỳ mang thai.
Nguyên nhân gây ra viêm khớp dạng thấp chưa rõ ràng

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa biết được nguyên nhân viêm khớp dạng thấp là gì. Tuy nhiên, yếu tố di truyền có thể có liên quan vì một số gen mặc dù không trực tiếp gây ra bệnh nhưng có thể khiến bạn nhạy cảm hơn với các yếu tố môi trường, chẳng hạn như nhiễm một số vi khuẩn hoặc virus nhất định và từ đó có thể làm khởi phát bệnh.
Các triệu chứng của viêm khớp dạng thấp

Các triệu chứng của viêm khớp dạng thấp làm ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hằng ngày. Chứng bệnh này khiến viêm màng trên khớp dẫn đến sưng khớp và đau khớp, hạn chế chuyển động, cứng khớp vào buổi sáng, suy nhược cơ thể, teo cơ, hình thành các nốt sẩn dị dạng. Ở giai đoạn nặng hơn, quá trình viêm giảm đi và hình thành các mô xơ và xương chùng (xương kết hợp) dẫn đến việc ngừng chức năng khớp.
Viêm khớp dạng thấp còn gây tổn hại nhiều hơn là xương khớp

Viêm khớp dạng thấp gây ra tình trạng viêm ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Điều đó có nghĩa là viêm khớp dạng thấp không chỉ phá hủy làm tổn thương đến hệ khớp mà còn có thể làm tổn thương đến cả hệ thống cơ thể bao gồm da, mắt, phổi, tim và mạch máu. Viêm khớp dạng thấp cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra chứng bệnh tim mạch và thiếu máu ở phụ nữ.
Các triệu chứng ban đầu thường khó nhận biết

Viêm khớp dạng thấp có thể khó chẩn đoán ở giai đoạn đầu vì các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu giống với các bệnh khác. Không có xét nghiệm máu hoặc thử nghiệm vật lý nào để xác nhận chẩn đoán. Các bệnh nhân thường cảm thấy đau từ từ hơn mỗi ngày, nhưng thường không biết họ bị bệnh. Sau đó, các khớp bắt đầu bị sưng tấy lên và đến lúc đó thì cũng đã muộn.
Dấu hiệu để kiểm tra bệnh

Khi đầu gối đau, không nên tự động cho rằng đó là viêm khớp dạng thấp. Nhưng nếu cảm thấy đau khớp, cứng khớp hoặc sưng kéo dài trong bốn đến sáu tuần, hãy đến phòng khám để kiểm tra. Ngoài ra những biểu hiện sau là dấu hiệu của viêm khớp dạng thấp: Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ, viêm tối thiểu ba nhóm khớp (khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân), yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính.
Phương pháp điều trị

Điều trị viêm khớp dạng thấp phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng và diễn biến của bệnh. NSAID (như ibuprofen) có thể làm giảm đau, trong khi corticosteroid có thể giúp giảm viêm. Ngoài ra còn có một loạt các loại thuốc, thuốc tiêm khớp và thuốc tiêm truyền tĩnh mạch mà bác sĩ sẽ xem xét khi xác định đúng liệu trình điều trị.
Viêm khớp dạng thấp là bệnh diễn biến phức tạp gây hậu quả nặng nề do đó cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên điều trị tích cực ngay từ đầu bằng các biện pháp điều trị hữu hiệu để làm ngừng hay làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Trong khi đó các loại thuốc mới đã cải thiện đáng kể các lựa chọn điều trị đem lại hiệu quả cao cho người bệnh.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Nguyên nhân và những yếu tố nguy cơ của viêm khớp dạng thấp - Phần 1
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.