Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Những bằng chứng khoa học về tiêm mũi thứ 4 vaccine COVID-19

Ngày 29/3/2022, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cho phép tiến hành tiêm liều tăng cường thứ 2 của vaccine COVID-19 do hãng dược Pfizer-BioNTech hoặc Moderna sản xuất trên đối tượng người cao tuổi và một số người bị suy giảm miễn dịch. Các bằng chứng khoa học nhìn chung ủng hộ việc tiêm mũi tiêm tăng cường thứ 4, khi mà khả năng bảo vệ của các mũi tiêm trước đây giảm dần theo thời gian.

Quy định của FDA về mũi tiêm tăng cường thứ 4

Trước đây, FDA đã từng cấp phép cho việc tiêm mũi tiêm tăng cường đầu tiên cho một số đối tượng đặc biệt như các đối tượng bị suy giảm miễn dịch sau khi đã hoàn thành tiêm đủ số lượng mũi tiêm cơ bản. Mới đây, FDA đã cho phép tiêm liều tăng cường thứ hai của một số loại vaccine hiện nay trên quần thể các đối tượng có nguy cơ cao trong việc gặp phải tình trạng bệnh lý nghiêm trọng, nhập viện và tử vong do COVID-19. Các bằng chứng gần đây đều cho thấy mũi tiêm tăng cường thứ hai của vaccine COVID-19 có bản chất mRNA có thể cải thiện khả năng bảo vệ chống lại COVID-19 mức độ nghiêm trọng và không gây ra các vấn đề đáng lo ngại về độ an toàn.

FDA cũng đã sửa đổi các giấy phép ủy quyền sử dụng khẩn cấp (EUA) như sau:

  • Mũi tiêm tăng cường thứ hai của Vaccine COVID-19 Pfizer-BioNTech hoặc Vaccine COVID-19 Moderna có thể được tiêm cho những người từ 50 tuổi trở lên sau ít nhất 4 tháng sau khi tiêm mũi tiêm tăng cường đầu tiên của bất kỳ loại vaccine COVID-19 nào được ủy quyền hoặc được phê duyệt.
  • Mũi tiêm tăng cường thứ hai của Vaccine COVID-19 Pfizer-BioNTech có thể được tiêm cho những người từ 12 tuổi trở lên, hay tiêm trên một số đối tượng suy giảm miễn dịch sau ít nhất 4 tháng sau tiêm mũi tiêm tăng cường đầu tiên của bất kỳ loại vaccine COVID-19 được ủy quyền hoặc được phê duyệt nào. Những đối tượng suy giảm miễn dịch có thể bao gồm những người đã trải qua cấy ghép nội tạng rắn, hoặc những người có đủ điều kiện được coi là có mức độ suy giảm miễn dịch tương đương.
  • Mũi tiêm tăng cường thứ hai của Vaccine COVID-19 Moderna có thể được tiêm sau ít nhất 4 tháng sau mũi tiêm tăng cường đầu tiên của bất kỳ vaccine COVID-19 nào được ủy quyền hoặc phê duyệt, trên những người từ 18 tuổi trở lên có cùng loại suy giảm miễn dịch nhất định.

Sự suy yếu khả năng bảo vệ theo thời gian

Các bằng chứng hiện tại cho thấy sự suy yếu của khả năng bảo vệ theo thời gian trong việc chống lại tình trạng COVID-19 mức độ nghiêm trọng ở những người lớn tuổi và những đối tượng gặp phải tình trạng suy giảm miễn dịch là có. Dựa trên phân tích dữ liệu thống kê, mũi tiêm tăng cường thứ hai của vaccine Pfizer-BioNTech hoặc Moderna có thể giúp tăng mức độ bảo vệ cho nhóm những đối tượng có nguy cơ cao này. Cũng theo các chuyên gia của FDA, các nghiên cứu cũng cho thấy mũi tiêm tăng cường đầu tiên sau các mũi tiêm cơ bản vẫn là rất quan trọng trong việc giúp bảo vệ tất cả mọi người trước những ảnh hưởng nghiêm trọng tiềm tàng của COVID-19. Vì vậy, những đối tượng chưa tiêm mũi tiêm tăng cường đầu tiên nên đi tiêm, trong khi những người có nguy cơ cao nên cân nhắc việc tiêm mũi tiêm tăng cường thứ 2.

Nghiên cứu về sự suy giảm hiệu quả bảo vệ sau mũi tiêm thứ 3 (mũi tăng cường thứ nhất)

Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí The Lancet Global Health, Alejandro Jara và các đồng nghiệp báo cáo hiệu quả của mũi tiêm tăng cường vaccine CoronaVac (Sinovac Biotech), vaccine AZD1222 (Oxford-AstraZeneca) và vaccine BNT162b2 (Pfizer-BioNTech) sau đã khi hoàn thành việc tiêm đầy đủ liều cơ bản của mỗi loại. Nghiên cứu dựa trên các phân tích dữ liệu thực tế được thu thập từ các cơ sở tiêm chủng tập trung với gần 11 triệu cá nhân từ 16 tuổi trở lên. Nghiên cứu có khả năng loại trừ ba biến thể BA.1, BA.1.1 và BA.2 khi thực hiện ngoài khoảng thời gian xuất hiện các biến thể này.

Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra:

- So với không tiêm chủng, hiệu quả vaccine trong khả năng chống lại COVID-19 có triệu chứng bao gồm 78,8% (95%CI 76,8–80,6) với ba mũi vaccine CoronaVac; 96,5% (95%CI 96,2–96,7) đối với mũi tiêm BNT162b2 và 93,2% (95%CI 92,9–93,6) đối với mũi tiêm AZD1222.

- Tỷ lệ hiệu quả của vaccine sau điều chỉnh là 86,3% trong việc giảm nhập viện đối với vaccine CoronaVac. Tỷ lệ tương ứng cao hơn đối với loại vaccine mRNA bao gồm ở mức 96,1% đối với mũi tiêm vaccine BNT162b2 và 97,7% đối với mũi tiêm vaccine AZD1222.

- Trong khả năng giảm tử vong, vaccine CoronaVac đạt 86,7% sau tiêm ba mũi CoronaVac. Con số này đạt 96,8% đối với vaccine BNT162b2 và 98,1% đối với vaccine AZD1222.

Các phân tích bổ sung chỉ ra rằng việc tiêm vaccine CoronaVac ba mũi cung cấp hiệu quả cải thiện hơn cũng như mức độ bảo vệ cao hơn trong chống lại tình trạng bệnh nghiêm trọng và tử vong so hai mũi tiêm. Bên cạnh đó, các tác giả nghiên cứu cũng báo cáo kháng thể trung hòa sinh ra bởi hai mũi tiêm vaccine CoronaVac giảm xuống gần hoặc dưới giới hạn trong huyết thanh thấp hơn sau 6 tháng; tuy nhiên, mũi tiêm thứ ba được tiêm 8 tháng sau mũi thứ hai lại gây tăng mạnh phản ứng miễn dịch. Sự kết hợp khác nhau của vaccine CoronaVac và BNT162b2 trong ba mũi tiêm cũng tạo mức kháng thể trung hòa cao ngay cả đối với biến thể Delta (B.1.617.2), nhưng thấp hơn nhiều đối với biến thể omicron BA.1. Dù vây, nhìn chung thì 3 mũi tiêm của các loại vaccine đã được chứng minh là có khả năng bảo vệ cao chống lại bệnh nặng và tử vong ở tất cả các nhóm tuổi.

Sự an toàn của mũi tiêm tăng cường thứ hai

Nhìn chung, các chuyên gia nhận định rằng những lợi ích đã biết và tiềm năng của mũi tiêm tăng cường vaccine COVID-19 thứ hai lớn hơn những rủi ro đã biết hay những rủi ro tiềm ẩn của chúng. Các bằng chứng vẫn đang được xem xét cho phép tiêm mũi tiêm tăng cường thứ hai sau khi hoàn thành các mũi tiêm cơ bản và liều mũi tiêm tăng cường đầu tiên vẫn đang được cung cấp đầy đủ cho cơ quan có thẩm quyền.

Sự an toàn của Vaccine COVID-19 Moderna khi được tiêm như một mũi tăng cường thứ hai được nghiên cứu trên 120 người tham gia từ 18 tuổi trở lên cũng như mũi tiêm tăng cường đầu tiên của Vaccine COVID-19 Pfizer-BioNTech đều cho thấy không có những ảnh hưởng tiêu cực nào xuất hiện mới và được báo cáo. Bên cạnh đó, dữ liệu miễn dịch từ một nghiên cứu lâm sàng đang diễn ra tại Israel được báo cáo cho FDA cũng chỉ ra khả năng an toàn của vaccine. Những người từ 18 tuổi trở lên đã được tiêm mũi tiêm tăng cường thứ hai của Vaccine COVID-19 Pfizer-BioNTech (154 tường hợp) hoặc Vaccine COVID-19 Moderna (120 trường hợp) ít nhất bốn tháng sau mũi tiêm tăng cường đầu tiên cho thấy sự gia tăng nồng độ kháng thể trung hòa chống lại virus SARS-CoV-2, bao gồm các biến thể Delta và Omicron, và khả năng này đã được báo cáo là xuất hiện chỉ sau hai tuần nếu so với 5 tháng sau mũi tiêm tăng cường đầu tiên.

Tổng kết

Việc tiêm mũi tiêm tăng cường thứ 2 đã được thông qua tại Mỹ và các bằng chứng khoa học đã cho thấy khả năng hiệu quả cũng như an toàn của nó. Tiêm các mũi tiêm tăng cường giúp duy trì sự bảo vệ của cơ thể khi kháng thể suy giảm theo thời gian, và những lợi ích của nó mang lại vẫn hơn nhiều so với những tác động tiêu cực có thể xảy ra. Tất nhiên, việc tiêm mũi tăng cường sẽ phụ thuộc vào từng khu vực và đặc trưng của từng quốc gia, khi còn nhiều yếu tố ảnh hưởng như nguồn lực, nguồn vaccine hay các yếu tố kinh tế xã hội khác.

Tham khảo thêm thông tin tại: Khi nào sẽ cần tiêm vaccine COVID-19 mũi thứ 4?

Viện Y học ứng dụng Việt Nam (tổng hợp từ FDA và The Lancet)
Bình luận
Tin mới
  • 25/10/2026

    Ăn quả mọng mỗi ngày để thúc đẩy quá trình lão hóa lành mạnh

    Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!

  • 25/10/2026

    3 loại trái cây “ngậm” nhiều hóa chất nhất và cách xử lý trước khi ăn

    Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.

  • 24/10/2026

    Vắc xin EV71 giải pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng hiệu quả cho trẻ

    Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.

  • 24/10/2026

    Rối loạn kinh nguyệt ở người trẻ:

    Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.

  • 23/10/2026

    Tại sao ăn ít mà bụng vẫn to?

    Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.

  • 23/10/2026

    Phòng ngừa dị ứng thức ăn cho trẻ khi bắt đầu ăn dặm

    Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.

  • 23/10/2026

    Tăng huyết áp có nên ăn cá ngừ?

    Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.

  • 22/10/2026

    5 cách loại bỏ vi nhựa khỏi cơ thể bạn

    Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.

Xem thêm