Thuốc giảm đau hạ sốt
Khi mắc bệnh hen suyễn cần hết sức thận trọng khi sử dụng thuốc giảm đau hạ sốt. Đây là nhóm thuốc thông thường hay được sử dụng nhất. Tuy nhiên, không phải thuốc giảm đau hạ sốt nào cũng ảnh hưởng đến bệnh nhân.
Thuốc cần chú ý trong nhóm này là aspirin. Ngoài tác dụng chính giảm đau, hạ sốt, chống ngưng tập tiểu cầu, aspirin còn có nhiều tác dụng phụ. Người ta thường chú ý đến ảnh hưởng xấu của thuốc này cho dạ dày như viêm, loét, chảy máu dạ dày mà ít người nghĩ đến tác dụng không mong muốn của aspirin có ảnh hưởng xấu đối với người bị hen. Đối với hen suyễn, tác dụng phụ của aspirin có thể gây co thắt phế quản và làm khởi phát các cơn hen nặng, đặc biệt là ở những người bệnh hen có kết hợp với viêm đường hô hấp trên dị ứng (viêm xoang dị ứng, viêm mũi dị ứng…) sẽ làm cho cơn hen nặng hơn. Ngoài ra, một số trường hợp sau khi dùng aspirin sẽ xuất hiện hen suyễn mặc dù trước đó không hề bị hen.
Thuốc giảm đau chống viêm không steroid
Các thuốc trong nhóm này như indomethacin, diclofenac, tilcotin, voltaren, piroxicam, ketoprofen, ibuprofen… được dùng trong các bệnh về khớp (gút, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, viêm cột sống dính khớp…). Với người bệnh hen, nếu dùng các thuốc này sẽ làm xuất hiện cơn hen, thậm chí hen cấp tính, nặng. Vì vậy, bệnh nhân có tiền sử hay đang bị hen phế quản cần hết sức tránh dùng các loại thuốc này hoặc nếu phải sử dụng cần hết sức thận trọng.
Các thuốc kháng sinh
Khi sử dụng thuốc kháng sinh cũng hết sức lưy ý, đặc biệt là nhóm kháng sinh penicillin (ampicillin, amoxicilin, cloxacillin...), nhóm aminoglycosid (streptomycin, neomycin, amikacin, gentamycin, tobramycin…) hoặc nhóm cephalosporin các thế hệ I, II, III, IV và ngay cả nhóm tetracyclin là những nhóm kháng sinh rất dễ gây dị ứng, xuất hiện cơn hen cấp tính. Vì vậy, người bị hen suyễn nên cân nhắc kỹ trước khi được sử dụng chúng. Nếu cần thiết phải sử dụng kháng sinh, nên dùng thuốc kháng sinh ở các nhóm khác ít gây dị ứng hơn, ví dụ, nhóm quinolon (ciprofloxacin, norfloxacin…) hoặc nhóm macrolid (clarithromycin…).
Thuốc trị tăng huyết áp
Đối với bệnh nhân hen, nếu có bệnh tăng huyết áp kèm theo, khi khám bệnh, cần cho bác sĩ biết tình trạng tăng huyết áp của mình để bác sĩ có sự chọn lựa thuốc thích hợp bởi vì thuốc làm giảm huyết áp, có một số nhóm, khi sử dụng, có thể làm xuất hiện cơn hen cấp tính, đó là nhóm thuốc ức chế men chuyển (coversyl, catopril, ednyt…) hoặc nhóm thuốc chẹn bêta giao cảm (atenolol, propranolol, nadolol…) có thể gây ra co thắt phế quản theo cơ chế thần kinh.
Thuốc an thần, giãn cơ
Với người bệnh hen, không nên dùng thuốc an thần, giãn cơ (diazepam, seduxen, orazepam) bởi vì các loại thuốc này có thể gây ức chế trung tâm hô hấp và giảm trương lực cơ hô hấp, từ đó làm cho tình trạng hen nặng lên, nguy hiểm hơn, nhất là trong các cơn hen cấp tính.
Thuốc giãn phế quản theophylin
Với người bị hen suyễn, cần hết sức chú ý khi sử dụng thuốc giãn phế quản theophylin. Mặc dù đây là thuốc làm giãn phế quản nhưng liều điều trị và liều gây độc của thuốc theophylin rất gần nhau.
Do vậy, người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ chỉ định của bác sĩ khám bệnh cho mình, không được tự ý tăng liều hoặc tăng số lần uống trong ngày... Hơn nữa, thuốc theophylin có nguy cơ tương tác với nhiều loại thuốc khác (kháng sinh nhóm macrolid, quinolon, các thuốc kháng histamin H2) làm tăng độc tính của những thuốc đó.
Vì vậy, việc sử dụng theophylin cho bệnh nhân hen cần hết sức thận trọng, cần đúng liều và theo dõi chặt chẽ để phát hiện sớm các biểu hiện bất thường do ngộ độc thuốc.
Ngoài ra, thuốc chlopheniramin là thuốc chống dị ứng (mề đay, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, viêm da tiếp xúc, phù Quincke, dị ứng thức ăn, côn trùng đốt, ngứa, phản ứng huyết thanh…) nhưng với người bị bệnh hen không được dùng thuốc này, đặc biệt khi lên cơn hen cấp. Thuốc betasec (thuốc điều trị rối loạn tiền đình), với người bệnh hen nếu sử dụng có thể làm xuất hiện cơn hen cấp.
Để phòng tác dụng phụ của một số thuốc với bệnh hen, mỗi lần đi khám bệnh cần cho bác sĩ biết mình đã hoặc đang mắc bệnh hen để bác sĩ lựa chọn thuốc thích hợp. Người bệnh hen càng không nên tự mua thuốc chữa bệnh nếu không có chuyên môn về y học.
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.
Dưa chuột được xem là thực phẩm có lợi cho người mỡ máu cao nhờ thành phần giàu nước và chất xơ. Tuy nhiên, để hỗ trợ kiểm soát mỡ máu hiệu quả, việc sử dụng dưa chuột đúng cách và hợp lý là điều không phải ai cũng nắm rõ.
Đau lưng đã trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt phổ biến ở dân văn phòng do thói quen ngồi làm việc lâu, dễ dẫn đến thoát vị đĩa đệm. Khi cơn đau kéo dài trên 3 tháng, đó là dấu hiệu của đau lưng mãn tính. Để kiểm soát và cải thiện tình trạng này, điều quan trọng là phải hiểu rõ căn nguyên và áp dụng các giải pháp phù hợp như thay đổi thói quen và thực hiện các bài tập chuyên biệt. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các nguyên nhân cốt gây ra chứng đau lưng mãn tính và các phương pháp khoa học giúp điều trị đau lưng hiệu quả.