Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Khuyến cáo Hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ

Đằng sau mỗi kỳ nghỉ, lễ tết với nhiều rượu bia, giới bác sĩ chúng tôi lại đón nhận một làn sóng nhập viện vì bệnh lý tim mạch cao hơn mọi ngày thường. Mà một phần trong những bệnh nhân đó là do “Hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ”.

Hội chứng tim sau kỳ nghỉ được mô tả bởi bác sĩ Ettinger từ năm 1978. Nó được xác định trên những bệnh nhân uống rượu nhiều mà trước đó không có bằng chứng bệnh lý tim mạch vào viện vì những rối loạn nhịp cấp tính mà thường gặp nhất là tim nhanh trên thất.

Hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ là gì?

Nghỉ lễ là dịp chúng ta tiêu thụ rượu nhiều nhất trong năm. Hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ được cho là những rối loạn nhịp sau khi sử dụng rượu, đặc biệt là tim nhanh trên thất ở những người trước đó có trái tim hoàn toàn khỏe mạnh. Hệ quả này được cho là tương tự như khi dùng cần sa. Phần lớn rối loạn nhịp này là cơn rung nhĩ. Cơn này thường sẽ tái lập lại nhịp xoang sau 24 giờ. Hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ thường được chẩn đoán ở những người rung nhĩ mới mắc mà không có bệnh tim. Dù hội chứng này thường hay tái phát lại, nhưng diễn biến lâm sàng của nó thường là lành tính và điều trị thuốc chống loạn nhịp cho những bệnh nhân này nhiều khi không cần thiết. Có một điều chúng ta cũng nên lưu ý là có một số bệnh nhân chỉ cần uống một chút ít rượu cũng có thể gây nên cơn rung nhĩ kịch phát. Nhưng điều này thường xảy ra hơn ở người uống nhiều rượu.

khuyen-cao-hoi-chung-tim-sau-ky-nghi-le-1

Hội chứng tim, đặc biệt là tim nhanh trên thất xuất hiện sau khi sử dụng rượu ở những người trước đó có trái tim hoàn toàn khỏe mạnh.

Cơ sở khoa học của hội chứng tim sau kỳ nghỉ lễ

Có một số cơ chế giải thích rượu có thể gây rối loạn nhịp tim. Rượu là tăng bài tiết epinephrine và norepinephrine, tăng cung lượng giao cảm, tăng nồng độ axit béo tự do trong huyết tương và tác dụng gián tiếp qua acetaldehyde, là gốc chuyển hóa của rượu hay axít béo no. Rượu cũng tác dụng trực tiếp làm giảm dòng natri và có thể ảnh hưởng đến độ pH bên trong tế bào, ête trong rượu có thể gây tình trạng axit hóa. Thật thú vị là những tác động này khá đặc biệt nó chỉ xuất hiện ở trên người và trên thỏ trong khi đó ở tâm nhĩ chó lại không có ảnh hưởng.

Phân tích trên điện tâm đồ cho thấy những bệnh nhân dùng nhiều rượu có kéo dài hơn rõ ràng các khoảng PR, QRS và QT so với những người không dùng rượu. Khả năng gây rối loạn nhịp của rượu còn được thấy khi thăm dò điện sinh lý tim.

Một nghiên cứu đánh giá 14 bệnh nhân trước đó có nghiện rượu. Đầu tiên, kích thích nhĩ và thất chỉ gây ra 1 bệnh nhân tim nhanh thất không bền bỉ và 1 bệnh nhân có rung nhĩ không bền bỉ. Sau khi cho dùng rượu và kiểm tra lại, 10/14 bệnh nhân đã có tim nhanh bền bỉ và không bền bỉ.

Một nghiên cứu khác cho thấy dùng whiskey không làm thay đổi tính trơ của tâm nhĩ nhưng nó có thể là tiền chất gây lên cuồng nhĩ ở những người dùng rượu kéo dài. Những bằng chứng này giúp khẳng định rượu là một nhân tố gây ra rối loạn nhịp. Chúng ta thấy rõ những bằng chứng của rượu lên tâm nhĩ với các rối loạn nhịp trên thất nhưng liệu tác động của nó lên tâm thất hay không vẫn còn chưa rõ ràng. Chỉ một ca rung thất được mô tả trên người nghiện rượu nặng, nhưng khi thăm dò điện sinh lý thì chỉ gây được cơn rung nhĩ.

khuyen-cao-hoi-chung-tim-sau-ky-nghi-le-2

Cấp cứu bệnh nhân tại Bệnh viện Tim Hà Nội.           Ảnh: Trần Minh

Tần xuất xuất hiện ngày càng nhiều

Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy khoảng 5-10% những bệnh nhân dùng rượu nhiều trong ngày Tết sẽ có hội chứng này. Dù không có thống kê chính xác trên toàn thế giới nhưng tỷ lệ này tăng cao ở những nước sử dụng nhiều rượu như vùng Káp ca ở Nga tỷ lệ này tăng lên đến 35%. Ở nước ta,  không có một thống kê chính xác nhưng ngày càng nhiều những bệnh nhân có cơn rung nhĩ và rối loạn nhịp nhĩ vì dùng rượu đã phải đến bệnh viện khám. Sau khi uống rượu bia, bệnh nhân thấy mệt mỏi, tức ngực, đánh trống ngực, cảm giác đau ngực, chẹn ngực và khó thở. Khám có thể thấy dấu hiệu tim đập nhanh, không đều hoặc loạn nhịp hoàn toàn. Xác định chẩn đoán bằng làm điện tim đồ khi cơn loạn nhịp đang xảy ra. Một số các loại loạn nhịp khác cũng có thể xuất hiện sau khi lạm dụng rượu như ngoại tâm thu, mà bệnh nhân thường cảm thấy tim thỉnh thoảng bỏ một vài nhịp.

Lời khuyên thầy thuốc

Thông thường, tất cả các loại loạn nhịp nói trên đều mất đi khoảng 24 giờ sau khi ngừng uống rượu, bia, cơ thể được cung cấp đầy đủ nước, các chất dinh dưỡng và nghỉ ngơi hoàn toàn.

Chính vì vậy, cách phòng tránh tốt nhất là tránh say xỉn trong những ngày này. Các biện pháp tiếp theo là bổ sung dinh dưỡng đầy đủ (bao gồm các vitamin, đặc biệt là vitamin B1, vitamin B12... các chất điện giải và các yếu tố vi lượng). Uống đủ nước, không hoạt động thể chất quá sức, dành nhiều thời gian thư giãn cũng góp phần làm giảm tỷ lệ loạn nhịp tim.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: 5 cách giúp bảo vệ bản thân khỏi nguy cơ đột quỵ

TS.BS. Phạm Như Hùng - Viện Tim mạch Việt Nam - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 31/08/2026

    3 loại đồ uống cần tránh khi dùng chung với thực phẩm chức năng dầu cá

    Tốt nhất nên uống thực phẩm bổ sung dầu cá cùng với thức ăn để tăng cường khả năng hấp thụ các axit béo omega-3 có lợi. Các loại đồ uống cần tránh khi dùng thực phẩm bổ sung dầu cá bao gồm rượu và đồ uống có ga.

  • 30/08/2026

    Uống đủ nước mỗi ngày: Nhiều người đang mất nước mà không hề hay biết

    Nước chiếm 60-70% trọng lượng cơ thể và tham gia vào hầu hết mọi phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Thế nhưng, tình trạng thiếu nước mãn tính - không phải mất nước cấp tính - đang âm thầm ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng triệu người Việt Nam mỗi ngày mà họ không nhận ra.

  • 29/08/2026

    Sự khác biệt giữa chế độ ăn phương Đông và phương Tây

    Chế độ ăn Địa Trung Hải từ lâu đã được coi là chuẩn mực cho một sức khỏe tốt. Ăn uống là một hành trình mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với các mối liên hệ văn hóa, niềm tin tâm linh, thói quen và tất nhiên là cả nguồn thực phẩm sẵn có. Chế độ ăn uống trực tiếp chịu trách nhiệm cho sức sống cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi có nhiều tranh luận về việc thế nào mới chính xác là một chế độ ăn lành mạnh; bởi đây là một vấn đề quan trọng và đầy thách thức.

  • 28/08/2026

    Huyết áp của bạn sẽ thay đổi như thế nào khi bạn tập thể dục mỗi ngày?

    Tập thể dục đều đặn hàng ngày có thể làm giảm huyết áp bằng cách tăng cường sức khỏe tim mạch và cải thiện độ đàn hồi cũng như chức năng của mạch máu. Tập thể dục với cường độ vừa phải hầu hết các ngày trong tuần có thể giúp giảm huyết áp bền vững và giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

  • 27/08/2026

    Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori và các bệnh lý liên quan

    Hơn 80% người trưởng thành tại Việt Nam nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori – tác nhân chính gây viêm loét và ung thư dạ dày. Khám phá ngay cơ chế lây truyền, quá trình phát triển bệnh và thách thức kháng kháng sinh hiện nay để chủ động bảo vệ sức khỏe gia đình bạn

  • 26/08/2026

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia là tình trạng khiến bạn không thể trải nghiệm niềm vui hoặc sự thích thú. Bạn có thể cảm thấy tê liệt hoặc ít hứng thú hơn với những điều mà trước đây bạn từng yêu thích. Đây là một triệu chứng phổ biến của nhiều bệnh lý tâm thần như trầm cảm. Cùng tìm hiểu về hội chứng này qua bài viết sau đây!

  • 25/08/2026

    Bạn có thể ở dưới ánh nắng mặt trời bao lâu trước khi da bị tổn thương?

    Đối với hầu hết mọi người, tác hại của ánh nắng mặt trời đối với da bắt đầu trong vòng 15 phút sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà không sử dụng kem chống nắng. Tuy nhiên, thời gian có thể thay đổi tùy thuộc vào loại da và loại tia cực tím, chỉ số (UV), thời gian và địa điểm.

  • 24/08/2026

    Thức khuya thường xuyên làm hại sức khỏe như thế nào?

    Thức khuya đã trở thành thói quen phổ biến trong xã hội hiện đại, đặc biệt ở giới trẻ. Nhưng ít ai biết rằng, việc thiếu ngủ mãn tính không chỉ gây mệt mỏi mà còn âm thầm phá hủy sức khỏe từ bên trong — từ tim mạch, não bộ đến hệ miễn dịch và cân nặng.

Xem thêm