Hầu hết chúng ta trong cuộc đời đều từng gặp cơn ác mộng, chẳng hạn như mơ thấy bản thân đang bị săn đuổi, bị tấn công hoặc đang đối diện với thứ gì đó vô cùng ghê rợn, ... cho tới khi tỉnh dậy trong hoảng sợ và mồ hôi vã ra như tắm.
Các chuyên gia cho biết, hiện tượng này là bình thường và đôi khi có lợi cho chính những người gặp ác mộng. Theo đoạn video mới nhan đề 'The Good Side of Bad Dreams' ('Mặt tốt của những giấc mơ tồi tệ') đăng tải trên tạp chí New York, một số nhà nghiên cứu giấc ngủ cho rằng, các giấc mơ tồi tệ đóng vai trò như một dạng giải phóng cảm xúc, cho phép chúng ta giải tỏa những căng thẳng và lo lắng đang ám ảnh bản thân trong cuộc sống, lúc tỉnh thức.
Clip mặt tốt của những giấc mơ tồi tệ
'Những thứ khiến chúng ta lo âu nhất khi tỉnh thức, tiếp tục quấy nhiễu chúng ta khi ngủ. Trong lúc ngủ, bộ não thâu tóm các nỗi sợ hãi trừu tượng và biến chúng thành những câu chuyện dưới dạng cơn ác mộng. Khi gặp ác mộng và tỉnh dậy, bạn nhớ rõ nó cứ như nó thực sự đã xảy ra, dù nó hoàn toàn không có thực', trích lý giải trong video.
Cơ chế hoạt động của quá trình trên diễn ra như sau: Cơn ác mộng về cơ bản nắm bắt một nỗi sợ hãi và biến nó thành một ký ức. Điều đó tương đối hữu ích, do với trí não, các ký ức dễ đối phó hơn so với các lo âu mơ hồ hiện hữu về thế giới quanh chúng ta. Dù đáng sợ, các ký ức vẫn đại diện cho những thứ đã xảy ra trong quá khứ và chúng ta không cần phải lo lắng về chúng trong hiện tại. Nói một cách khác, ác mộng giúp tách xa chúng ta khỏi các nỗi lo lắng ám ảnh.
Vì vậy, nếu nằm trong số 8% người trưởng thành thỉnh thoảng vẫn gặp ác mộng khi ngủ, đừng lo lắng quá nhiều về chuyện đó. Đây chỉ là cách bộ não của bạn dẹp bỏ các lo sợ phía sau.
Ngoài ra, bạn cũng không nên để cơn ác mộng ngăn cản bạn tiếp tục say giấc nồng, vì điều này mới thực sự gây ra các vấn đề cho bạn. Các nhà nghiên cứu phát hiện, việc thiếu ngủ có liên quan chặt chẽ đến các rối loạn tâm thần.
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.