Thực tế là, nha sĩ có thể lập một kế hoạch điểu trị an toàn, hiệu quả và cần thiết để chống lại những ảnh hưởng xấu của các bệnh răng miệng trong suốt qua trình mang thai.

Trong suốt quá trình mang thai, sức khỏe răng miệng của người phụ nữ có thể có những thay đổi lớn. Theo một báo cáo trên tờ báo General Dentistry (Hoa Kỳ), phụ nữ mang thao có thể bị viêm lợi, u, và phì đại lợi từ nhẹ đến nặng.
Về mặt lâm sàng, viêm lợi không khác gì so với viêm lợi ở người không mang thai. Bệnh nhân có lợi đỏ và viêm, chảy máu khi thăm khám và khiến cho răng lung lay. Khoảng 30 - 100% phụ nữ có thai sẽ trải qua các mức độ khác nhau của viêm lợi.
Mặc dù hiện tượng chảy máu và viêm của lợi được thống kê có mặt ở tất cả các giai đoạn của thai kỳ, nhưng thường sẽ mất đi khoảng ba đến sáu tháng sau sinh, với điều kiện là các biện pháp vệ sinh răng miệng phải được thực hiện đầy đủ. Vệ sinh răng miệng tốt và thăm khám nha sĩ định kỳ sẽ làm giảm bớt hiện tượng viêm lợi.
U trong thai kì được báo cáo là xuất hiện ở 10% phụ nữ mang thai. Những u này không phải là ung thư, xuất hiện như một khối tăng sinh trong miệng và thường biến mất sau khi đứa trẻ ra đời. Chúng thường không đau, có màu đỏ hoặc tím, nhưng chúng có thể xuất hiện hiện tượng chảy máu tự nhiên. Nếu khối u trong thai kì đau, chảy máu nhiều hay làm ảnh hưởng đến ăn nhai thì phẫu thuật cắt bỏ là biện pháp xử trí hiệu quả nhất.
Phì đại lợi, là một quá sản hay tăng lên về kích thước của lợi, xảy ra ít thường xuyên hơn so với viêm lợi và u trong thai kì. Trong những trường hợp năng, lợi có thể phì đại chùm hoàn toàn lên răng.
Viêm lợi và phì đại lợi thai kì được cho rằng là kết quả của sự phản ứng quá mức với vi khuẩn bên trong miệng. Đó là lí do vì sao việc giáo dục và động viên bà mẹ mang thai là điều vô cùng quan trọng trong vệc duy trì một sức khỏe răng miệng tốt trong suốt thời kì mang thai.
Nếu vệ sinh răng miệng không thực hiện trước cũng như trong quá trình mang thai, các vấn đề như viêm lợi, u trong thai kì hay phì đại lợi có thể trở nên nặng hơn bởi vì mang thai. Phụ nữ mang thai nên duy trì việc khám và tham vấn nha sĩ định kì theo nửa năm một lần nếu họ thấy có bất cứ bất thường nào về răng miệng của mình.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Bệnh răng miệng ở phụ nữ có thai
Đậu lăng giàu vitamin, khoáng chất và chất xơ, mà không có chất béo hay cholesterol như thịt đỏ.
Thời tiết lạnh không chỉ khiến cơ thể dễ cảm cúm mà còn là “kẻ thù thầm lặng” của hệ tim mạch. Khi nhiệt độ xuống thấp, mạch máu co lại, huyết áp tăng, tim phải làm việc nhiều hơn – đặc biệt nguy hiểm với người cao tuổi và người có bệnh nền như tăng huyết áp hay mạch vành. Vì vậy, mùa đông là thời điểm cần đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ tim mạch, giữ ấm và duy trì lối sống lành mạnh để phòng ngừa những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.
Đọc nhãn thành phần dinh dưỡng của sản phẩm trước khi mua là một kỹ năng cần thiết trong đời sống hiện đại ngày nay. Tuy nhiên, nhiều người có thể vẫn gặp phải những sai lầm phổ biến, khi các thông tin trên bao bì có thể đánh lừa bởi quảng cáo. Dưới đây là 3 lỗi sai thường gặp nhất và làm thế nào để luôn tỉnh táo khi đọc nhãn thành phần dinh dưỡng của sản phẩm.
Trung tâm Nghiên cứu – Viện Y học ứng dụng Việt Nam là một trong những tập thể được Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen vì đã có thành tích hành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn 2024-2025.
Thừa cân, béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Duy trì cân nặng khỏe mạnh giúp phụ nữ chủ động giảm nguy cơ.
Chế độ ăn uống của bạn có thể ảnh hưởng đến các triệu chứng u xơ tử cung nhiều hơn bạn nghĩ. Thực phẩm giàu chất xơ, axit béo omega-3, vitamin D và sắt có thể giúp hỗ trợ kiểm soát các triệu chứng.
Trong cuộc chiến chống lại béo phì, các loại thuốc mới hiện nay đang liên tục tạo ra những tiếng vang lớn, trở thành những công cụ đắc lực. Trong đó, một loại hormone được phát hiện từ 30 năm trước mang tên Leptin đang quay trở lại và hứa hẹn trở thành một vũ khí giúp tăng cường sức mạnh cho các liệu pháp giảm cân hiện tại.
Các món ăn nhẹ giàu dinh dưỡng tốt cho tim mạch có thể giúp giảm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim.