Cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua (TIA) giống như một cơn đột quỵ, có các triệu chứng tương tự đột quỵ, nhưng thường chỉ kéo dài vài phút và không gây tổn thương vĩnh viễn. Khoảng 1 trong 3 người có một TIA cuối cùng sẽ có một cơn đột quỵ, với khoảng một nửa xảy ra trong vòng một năm sau khi có cơn thiếu máu não thoáng qua. Một TIA có thể xem như là một cảnh báo và một cơ hội - cảnh báo về một cơn đột quỵ sắp xảy ra và cơ hội để thực hiện các bước để ngăn chặn đột quỵ.
Cơn thiếu máu não thoáng qua thường kéo dài một vài phút. Hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng biến mất trong vòng một giờ. Các dấu hiệu và triệu chứng của TIA giống với những phát hiện sớm trong một cơn đột quỵ và có thể bao gồm khởi phát đột ngột với các dấu chứng, triệu chứng sau: yếu, tê hoặc liệt ở mặt, tay hay chân, thường ở một bên của cơ thể; líu lưỡi hoặc lời nói bị cắt bớt hoặc người khác khó hiểu; mù lòa ở một hoặc cả hai mắt hoặc nhìn đôi; chóng mặt hoặc mất thăng bằng hoặc phối hợp cả hai; mỗi người có thể có nhiều hơn một cơn TIA, các dấu hiệu và triệu chứng tái phát có thể giống hoặc khác nhau tùy thuộc vào khu vực của não bộ liên quan.
Khi nghi ngờ có một TIA, người bệnh cần đến cơ sở y tế ngay lập tức. Đánh giá kịp thời và xác định các rối loạn để điều trị có thể giúp ngăn ngừa đột quỵ.
Mảng vữa xơ trong lòng động mạch là thủ phạm gây TIA.
Một TIA có nguồn gốc tương tự như một cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ, là thể phổ biến nhất của đột quỵ. Trong một cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ, cục máu đông làm nghẽn cung cấp máu cho một phần của bộ não. Trong TIA, không giống như một cơn đột quỵ, tắc nghẽn là tạm thời và không có tổn thương vĩnh viễn.
Nguyên nhân cơ bản của một TIA thường là một sự tích tụ của các mảng chứa cholesterol gọi là mảng xơ vữa trong lòng động mạch hoặc một trong các nhánh của động mạch, là nguồn cung cấp ôxy và chất dinh dưỡng cho não. Mảng xơ vữa có thể làm giảm lưu lượng máu qua động mạch hoặc dẫn đến sự hình thành của một cục máu đông. Một cục máu đông di chuyển đến một động mạch cung cấp cho não từ một phần khác của cơ thể, thường gặp nhất từ tim, cũng có thể gây ra một TIA.
Lịch sử gia đình: Người có nguy cơ cao bị TIA và đột quỵ nếu trong gia đình đã có thành viên bị TIA hoặc đột quỵ.
Tuổi tác: Nguy cơ TIA và đột quỵ tăng khi già đi, đặc biệt là sau 55 tuổi.
Giới tính: Đàn ông có nguy cơ cao TIA và đột quỵ cao hơn nữ, nhưng hơn một nửa số ca tử vong do đột quỵ xảy ra ở phụ nữ.
Người đã từng có một hoặc nhiều TIA, nguy cơ bị đột quỵ cao gấp 10 lần người chưa từng bị TIA.
Người bị thiếu máu hồng cầu hình liềm: Đột quỵ là một biến chứng thường gặp của rối loạn di truyền này.
Chủng tộc: Người da đen có nguy cơ tử vong do đột quỵ cao hơn các chủng tộc khác, một phần là do họ có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường cao hơn.
Chăm sóc bệnh nhân bị đột quỵ tại Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: Trần Minh
Tăng huyết áp: Nguy cơ đột quỵ bắt đầu với chỉ số huyết áp cao hơn 110/75mmHg. Cần gặp bác sĩ để có được huyết áp mục tiêu dựa vào độ tuổi, các bệnh kèm theo và các yếu tố khác.
Cholesterol cao: Ăn ít cholesterol và chất béo, đặc biệt chất béo bão hòa, có thể làm giảm các mảng xơ vữa trong động mạch.
Bệnh tim mạch: Suy tim, nhịp tim bất thường, hẹp động mạch cảnh...
Bệnh động mạch ngoại biên (PAD): Các mạch máu tay và chân bị hẹp tắc.
Bệnh đái tháo đường: Nồng độ homocystein cao; thừa cân và béo phì.
Do lối sống: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ huyết khối, tăng huyết áp...; giảm hoạt động thể chất, kém vận động; ăn quá nhiều chất béo và muối làm tăng nguy cơ TIA và đột quỵ; uống nhiều rượu; sử dụng cocain và ma túy; sử dụng thuốc tránh thai.
Khi bác sĩ đã xác định nguyên nhân của cơn thiếu máu não thoáng qua, mục tiêu của điều trị là để điều chỉnh bất thường và ngăn ngừa đột quỵ. Tùy thuộc vào nguyên nhân của TIA, bác sĩ sử dụng một số loại thuốc để giảm khả năng bị đột quỵ sau một TIA. Các thuốc được lựa chọn phụ thuộc vào vị trí, nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng và loại TIA. Hai loại thuốc hay dùng là: thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin, clopidogrel; thuốc chống đông máu bao gồm heparin và warfarin; nếu có rung nhĩ, bác sĩ có thể kê toa một loại thuốc chống đông; phẫu thuật can thiệp động mạch cảnh tắc hẹp như nong mạch, đặt stent...
Magie là một khoáng chất đa lượng thiết yếu, đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì sức khỏe của xương, cơ bắp và hệ thần kinh. Khi cơ thể được cung cấp đủ lượng magie, hàng loạt các chức năng sẽ được cải thiện rõ rệt.
Hạ đường huyết là tình trạng xảy ra khi mức đường huyết trong cơ thể giảm xuống quá thấp để có thể cung cấp đủ năng lượng cho các hoạt động của cơ thể.
Magie là khoáng chất quan trọng giúp điều hòa thần kinh, giảm căng thẳng và cải thiện giấc ngủ. Bổ sung thực phẩm giàu magie đúng cách, kết hợp món ăn phù hợp, có thể hỗ trợ ngủ ngon và nâng cao sức khỏe toàn diện.
Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ quá mức trong tế bào gan, lượng mỡ chiếm khoảng trên 5% trọng lượng gan. Chế độ ăn góp phần quan trọng trong điều trị bệnh gan nhiễm mỡ.
Trong giai đoạn ôn thi căng thẳng, các sĩ tử thường dồn hết quỹ thời gian vào bài vở mà quên nghỉ ngơi thường khiến não bộ quá tải và mệt mỏi. Thay vào đó, duy trì vận động nhẹ nhàng chính là giải pháp then chốt giúp giải tỏa áp lực, tăng cường trí nhớ và giúp việc tiếp thu kiến thức trở nên hiệu quả hơn. Những bài tập đơn giản không hề lãng phí thời gian mà còn tạo nền tảng sức khỏe bền vững để các bạn chinh phục kỳ thi một cách khoa học. Để hiểu rõ hơn về lợi ích của sự cân bằng này, hãy cùng các chuyên gia của Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu và áp dụng ngay vào lộ trình học tập hằng ngày.
Nghệ không chỉ tạo màu sắc, hương vị cho nhiều món ăn mà còn là một vị thuốc tốt. Các nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh vai trò của curcumin - một polyphenol quý giá trong thân rễ nghệ - có tiềm năng trong hỗ trợ điều trị và phục hồi tổn thương gan.
Trẻ sinh trước 31 tuần có nguy cơ cao mắc bệnh võng mạc và các tật về mắt gây mù lòa. Khám sàng lọc sớm và điều trị đúng giai đoạn là chìa khóa vàng để ngăn ngừa biến chứng, giúp trẻ duy trì thị lực khỏe mạnh.
Yến mạch giàu chất xơ, giúp bạn no lâu và có thể hỗ trợ mục tiêu giảm cân khi được kết hợp vào chế độ ăn uống cân bằng.