Axit uric được hình thành tự nhiên trong cơ thể của bạn, nhưng nó cũng được tìm thấy trong một số loại thực phẩm nhất định. Axit uric được đào thải khỏi cơ thể qua nước tiểu.
Một chế độ ăn uống phù hợp dành cho bệnh gout có thể giúp làm giảm nồng độ axit uric trong máu. Chế độ ăn uống dành cho bệnh gout có thể làm giảm nguy cơ tái phát cơn đau do gout và làm chậm sự tiến triển của tổn thương khớp. Dùng thuốc cũng cần thiết để kiểm soát cơn đau và hạ nồng độ axit uric.
Lịch sử bệnh
Gout được hình thành từ sự tích tụ qua nhiều năm liền tiêu thụ quá mức các loại thịt, hải sản và rượu. Trên thực tế, đây được coi là một căn bệnh của người giàu - những người có thể đủ khả năng để có thói quen ăn uống như vậy. Một thời gian dài trước khi nguyên nhân gây ra bệnh gút được hiểu rõ, các bác sĩ đã quan sát thấy một số lợi ích của chế độ ăn uống hạn chế về kiểm soát bệnh gout.
Trong nhiều năm, điều trị cho bệnh gout tập trung vào việc loại bỏ tất cả các loại thực phẩm có chứa lượng lớn purine nhằm giảm bớt nồng độ cao của purine.
Sự hiểu biết hiện tại
Nhiều nghiên cứu gần đây về bệnh gout đã mở ra một cái nhìn rõ ràng hơn về vai trò của chế độ ăn uống trong kiểm soát bệnh. Một số thực phẩm nên tránh, nhưng không phải loại bỏ tất cả các loại thực phẩm có purine. Một số loại thực phẩm cần được đưa vào chế độ ăn uống của bạn để kiểm soát nồng độ axit uric.
Trên hết, mục tiêu đạt được trọng lượng cân đối và ăn uống lành mạnh - một thông điệp được áp dụng để làm giảm nguy cơ của nhiều bệnh.
Chế độ ăn uống chi tiết
Các nguyên tắc chung của một chế độ ăn uống đối với bệnh gout cơ bản giống như các khuyến nghị cho một chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng:
Giảm cân: Thừa cân làm tăng nguy cơ phát triển bệnh gout, giảm cân làm giảm nguy cơ bệnh gout. Nghiên cứu cho thấy rằng việc giảm lượng calo và giảm cân - thậm chí không áp dụng chế độ ăn uống hạn chế purine - cũng làm giảm nồng độ acid uric và giảm số lượng số lần phát bệnh gout. Giảm cân cũng làm giảm bớt sự áp lực trên toàn khớp.
Tinh bột: Ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt, trong đó cung cấp tinh bột. Tránh các loại thực phẩm như bánh mì trắng, bánh ngọt, kẹo, đồ uống có đường và các sản phẩm từ sirô ngô chứa lượng fructose cao.
Chất béo: Cắt giảm bớt chất béo bão hòa từ các loại thịt đỏ, gia cầm béo và các sản phẩm sữa có chất béo cao.
Protein: Hạn chế protein hàng ngày từ thịt nạc, cá và gia cầm xuống 113-170 gam .Thêm protein vào chế độ ăn của bạn với các sản phẩm từ sữa chứa ít hoặc không có chất béo, chẳng hạn như sữa chua ít béo hoặc sữa tách kem giúp giảm nồng độ axit uric.
Khuyến nghị đối với các loại thực phẩm bổ sung cụ thể bao gồm những điều sau đây:
Rau có hàm lượng purine cao: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại rau có hàm lượng purine cao không làm tăng nguy cơ bệnh gout hoặc cơn gout tái phát. Một chế độ ăn uống lành mạnh dựa trên rất nhiều loại trái cây và rau quả có thể bao gồm các loại rau giàu purine, như măng tây, đậu Hà Lan, súp lơ hoặc nấm. Bạn cũng có thể ăn các loại đậu hoặc đậu lăng, trong đó có khá nhiều chất purine và còn là một nguồn cung cấp protein.
Hải sản: Tránh các loại hải sản chứa nhiều purine: cá cơm, cá trích, cá mòi, trai, sò điệp, cá hồi, cá tuyết chấm đen, cá thu và cá ngừ.
Rượu: Sự chuyển hóa của rượu trong cơ thể của bạn được cho là làm tăng sản xuất axit uric, rượu góp phần vào tình trạng mất nước. Bia có liên quan đến sự tăng nguy cơ bệnh gout và các lần phát bệnh định kỳ. Ảnh hưởng của rượu vang chưa được hiểu rõ. Nếu bạn uống rượu, nói chuyện với bác sĩ của bạn về những gì là thích hợp cho bạn.
Vitamin C: Vitamin C có thể giúp giảm lượng axit uric. Hỏi ý kiến bác sĩ của bạn về việc bổ sung 500 mg Vitamin C có phù hợp với kế hoạch chế độ ăn uống và thuốc men của bạn hay không
Cà phê: Một số nghiên cứu cho thấy rằng tiêu thụ lượng cà phê vừa phải có thể giảm bệnh gout, đặc biệt là với cà phê chứa caffeine ( cà fe nguyên chất). Uống cà phê có thể không phù hợp với các điều kiện sức khỏe khác. Hỏi bác sĩ của bạn về uống bao nhiêu cà phê là đúng cho bạn.
Quả anh đào: Có một số bằng chứng cho thấy ăn quả anh đào có thể giảm bệnh gout.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những dấu hiệu cho thấy bệnh Gout mạn tính đang xấu đi
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!