
Các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm kiếm chất làm đầy lý tưởng trong ngành thẩm mỹ: vừa an toàn, rẻ tiền, không gây đau đớn và dễ loại bỏ khi cần thiết.
Tiêm chất làm đầy (filler) vào mô mềm là thủ thuật rất thông dụng trên toàn thế giới kể từ khi ca tiêm filler đầu tiên được đưa ra cho phẫu thuật nâng mô mềm. Hiện nay, filler được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của y học với kết quả rất hài lòng, nhưng số ca biến chứng cũng tăng lên do việc tiêm filler gia tăng. Biến chứng sau tiêm filler có thể xảy ra bất kể lúc nào sau thủ thuật, nó có thể diễn ra sớm hay muộn, với mức độ từ không đáng kể tới nghiêm trọng.
Dựa trên kinh nghiệm, các bác sĩ của Hàn Quốc trong đó có BS. Joo Huyn Kim, BS. Duk Kyun Ahn, BS. Hii Sun Jeong, và BS. In Suck Suh đã có bài viết đăng tải trên Tập san Khoa học Y khoa Hàn Quốc (Journal of Korean Medical Science – JKMS) về việc điều trị biến chứng sau tiêm filler. Họ đưa ra cách thức điều trị để giảm nhẹ vết thương và tái tạo mô và tạo ra kết quả thẩm mỹ tốt cùng với việc điều trị sớm trước tác dụng phụ của tiêm filler.
Tiêm chỉnh hình gương mặt ra đời cách đây hơn 1 thế kỷ
Nhiều cách thức tạo đường cong cho cơ thể hay trẻ hóa khuôn mặt, giảm nếp nhăn nhờ các chất tiêm đã được mô tả trong suốt 100 năm qua. Cấy ghép mỡ tự sinh để chỉnh sửa khiếm khuyết mô mềm của gương mặt được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1893. Vào đầu thế kỷ 20, chất parrafin lỏng được tiêm cho việc tạo đường cong của gương mặt ở Vienna, Áo. Dù gây ra biến chứng đáng kể và gặp phải phản ứng dữ dội từ công luận, người ta đã khám phá ra các chất tiêm thay thế.
Silicone lỏng được sử dụng để cải thiện đường cong cơ thể tại Thụy Sỹ và Nhật Bản vào những năm 1940 và tiêm chất lỏng silicone cho gương mặt trở nên phổ biến và trở thành thủ thuật thông dụng để trẻ hóa cơ thể và gương mặt vào những năm 1960.

Một biến chứng do tiêm filler trong thủ thuật nâng mũi
Đã có bước tiến lớn về các chất làm đầy (filler) có thể tiêm vào năm 1981 với sự phê chuẩn ban đầu của Cục quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) dành cho chất làm đầy collagen từ trâu bò (Zyderm, Zyplast; Inamed Aesthetics, Santa Barbara ở California, Mỹ) dành cho mục đích phẫu thuật thẩm mỹ. Sau đó, collagen từ trâu bò trở thành tiêu chuẩn cho các vật liệu có thể tiêm. Một kỷ nguyên mới tiêm các chất làm đầy hoạt tính sinh học có lựa chọn nhân tạo bắt đầu vào năm 2003, khi một sản phẩm của Restylane (Medicis, của Scottsdale ở bang Arizona, Mỹ) được FDA phê chuẩn. Kể từ đó, FDA đã phê chuẩn vô số chất làm đầy trong ngành thẩm mỹ, chủ yếu sử dụng ở thị trường châu Âu. Điều này đã dẫn đến sự bùng nổ trong sử dụng các chất làm đầy có thể tiêm. Nhiều dạng filler đã được phát triển, mang đến kỳ vọng giảm thiểu biến chứng. Tuy nhiên, vẫn nhiều biến chứng được ghi nhận.
Chất làm đầy lý tưởng
Các chất làm đầy có thể tiêm nên sở hữu những đặc tính sau đây. Chúng ta đánh giá độ an toàn và hiệu quả để quyết định xem một vật liệu có lý tưởng hay không. Vật liệu làm đầy có thể tiêm nên an toàn, tương thích sinh học, kháng nhiễm trùng, và gắn cố định với mô xung quanh cũng như nên duy trì được thể tích của nó để bao quanh cơ thể và phủ lấp nếp nhăn. Nó phải đảm bảo phản ứng cơ thể ngoại lai ở mức tối thiểu, trong đó bao gồm không gây ra sự hình thành nên u hạt.
Các vật liệu lý tưởng để tiêm không được gây quái thai, ung thư hay dị ứng, nó không cần phải tiêm thử trước. Chất lý tưởng không gây đau đớn, không đắt, và ổn định khi lưu trữ ở nhiệt độ phòng. Và phải dễ dàng loại bỏ chất làm đầy cũng rất cần thiết trong trường hợp xảy ra biến chứng. Mặc dù chất làm đầy lý tưởng vẫn chưa được tạo ra, các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm kiếm các filler đáp ứng những tiêu chuẩn này.
Phân loại chất làm đầy
Có một vài phương pháp để phân loại chất làm đầy dành cho da. Các tác giả Hàn Quốc Joo Hyun Kim, Duk Kyun Ahn, Hii Sun Jeong, In Suck Suh trong bài viết trên JKMS tập trung vào 3 loại: loại tự nhiên, loại nhân tạo và loại hỗn hợp.
Các nguyên liệu tự nhiên có thể là chiết xuất bào chế từ mô người hay mô động vật. Nguyên liệu tự nhiên gồm mỡ tự thân và collagen tự thân, và collagen được chia nhỏ thành collagen từ lợn, collagen từ trâu bò, và collagen từ người; đó lần lượt là các collagen xenogeneic và allogeneic.
Mỡ tự thân thường bóc tách từ bụng hay đùi. Cấy ghép mô mỡ tự thân đã được sử dụng thành công vài thế kỷ qua, trong khi sử dụng tiêm chất béo cho việc tạo đường cong của cơ thể (bơm ngực, bơm mông) trở nên thông dụng từ cách đây hơn 30 năm.
Bảng 1: Các chất làm đầy (Filler) trong thẩm mỹ được FDA phê chuẩn

Nguyên liệu sinh tổng hợp là các nguyên liệu hóa học hoặc sản phẩm hữu cơ sinh học, chẳng hạn như (C14H21NO11)n acid hyaluronic, silicone, calcium hydroxylapatite, acid polylactic, và dạng gel polyacrylamide.
Một trong những chất làm đầy sử dụng rộng rãi nhất là acid hyaluronic. Nếu chất làm đầy acid hyaluronic bị tiêm quá liều hay tiêm sai cách, có thể sửa hay loại bỏ bằng cách sử dụng hyaluronidase ngay tức thời. FDA đã phê chuẩn 22 chất làm đầy.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Phản ứng phụ của việc tiêm filler ở mặt
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!
Mùa đông tới mang theo không khí khô lạnh khiến làn da vốn mỏng manh của trẻ nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Hiện tượng nẻ gót, bong tróc hay cước tay chân ở trẻ nhỏ là nỗi trăn trở hàng đầu của nhiều bậc phụ huynh. Những vết bong nẻ không chỉ làm bé đau rát, ngứa ngáy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, giấc ngủ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc nhận biết rõ nguyên nhân, dấu hiệu và nắm chắc quy trình chăm sóc da chuẩn khoa học sẽ giúp cha mẹ chủ động bảo vệ toàn diện cho bé trong những ngày giá rét.
Mọi người thường tránh ăn đậu vì chúng được biết là gây đầy hơi và chướng bụng. Điều này xảy ra vì đậu chứa một loại đường phức tạp gọi là galacto-oligosaccharide (GOS), một dạng carbohydrate mà các enzyme tiêu hóa của con người không thể phân giải hoàn toàn. Thay vào đó, GOS được vi khuẩn trong ruột già lên men, và sinh ra sản phẩm phụ là khí, gây đầy hơi. Mặc dù không có loại thực phẩm nào có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đầy hơi do đậu gây ra, nhưng việc kết hợp đậu với một số loại thực phẩm cụ thể có thể cải thiện tiêu hóa.