Ở con người, hàm răng chia làm những nhóm chính sau: nhóm răng cửa (bao gồm 4 răng cửa hàm trên và 4 răng cửa hàm dưới), nhóm răng nanh (bao gồm 2 răng nanh hàm trên và 2 răng nanh hàm dưới), nhóm răng tiền cối – hay còn gọi là nhóm răng cối nhỏ (bao gồm 4 răng ở hàm trên và 4 răng ở hàm dưới, chia đều cho 4 cung hàm, mỗi cung hàm 2 răng – nằm ngay sau răng nanh) và cuối cùng là nhóm răng cối lớn – hay còn gọi là răng hàm, răng cấm,… Nhóm răng cối cũng phân bố như nhóm răng cối nhỏ, tức là bao gồm 4 răng ở hàm trên và 4 răng ở hàm dưới, chia đều cho 4 cung hàm, mỗi cung hàm 2 răng – nằm ngay sau răng cối nhỏ). Ở con người có 28 răng tất cả, và kết thúc mọc vào khoảng thời gian 14 tuổi.

Răng khôn cũng thuộc trong nhóm răng cối lớn, người ta gọi là răng cối lớn thứ 3. Sở dĩ gọi là răng khôn bởi vì răng này đặc biệt chỉ mọc khi con người bước vào lứa tuổi trưởng thành ('khôn'): khoảng từ 18 tuổi trở đi.
Sở dĩ tính từ 18 tuổi trở đi và thường không có giới hạn về độ tuổi kết thúc. Bởi vì nếu răng khôn ngầm, mọc nghiêng, kẹt, lệch,… thì răng này mọc lên rất chậm, thậm chí là không mọc lên được. Có người 60 tuổi hoặc hơn nữa vẫn có hiện tượng mọc răng khôn.
Khi răng khôn mọc – thì cũng giống như hiện tượng sinh lý xảy ra khi mọc một cái răng bất kỳ nào khác. Đó là xuất hiện hiện tượng nhiễm trùng cục bộ tại nơi răng mọc. Nướu răng và toàn bộ phần mô mềm xung quanh sẽ sưng tấy. Nướu răng sẽ trải qua quá trình bóc tách, nứt ra. Đương nhiên quá trình này sẽ gây cảm giác rất đau cho khổ chủ. Có những trường hợp sưng cả má, đau vùng góc hàm đến mức há miệng khó hoặc thậm chí là không há miệng ra được.
Sinh lý toàn than trong giai đoạn này cũng có những phản ứng với việc mọc răng: như sưng hạch tại vùng góc hàm; sốt nhẹ kèm rối loạn tiêu hóa,…
Đặc biệt đối với những răng khôn bị kẹt thì những dấu hiệu này sẽ nặng nề, kéo dài hơn và thường lặp đi lặp lại sau một thời gian ngắn. Vì sao mà răng lại bị kẹt, không mọc ra được. Bởi vì răng khôn mọc ở thời điểm mà hàm răng đã hoàn thiện, cung hàm đã đủ chỗ, không còn chỗ cho răng khôn mọc lên nữa. Thêm nữa là do hướng mọc của răng khôn thường bị nghiêng, không thẳng như những răng bình thường khác. Chính vì vậy mà răng khôn mọc lên rất khó khăn. Thậm chí là không mọc lên được.
Đấy là nỗi khổ của mọi người thường gặp khi mọc răng khôn. Còn răng khôn có cần thiết nhổ đi không hay là giữ lại? Câu trả lời là nên nhổ. Sau đây là những lý do nên tạm biệt sớm chiếc răng khôn phiền toái này:
Đây là loại nhiễm trùng phổ biến nhất khi răng khôn bắt đầu 'lộ diện' trên hàm răng của mỗi người. Hầu hết những người đang mọc răng khôn đều gặp vấn đề với chứng viêm lợi này. Khi ấy, phần lợi (nướu) trùm lên răng khôn đang mọc sẽ bị viêm đỏ và sưng tấy lên, gây cảm giác đau và khó chịu cho bệnh nhân.
Mức độ đau có thể từ ê ẩm cho tới những cơn đau hành bạn suốt một vài ngày, một số trường hợp còn có thể phát sốt.
Vị trí mà anh chàng răng khôn ưa chuộng nhất chính là khu vực trong cùng của hàm và cũng vì vậy mà anh chàng to xác này rất hay chèn ép những răng còn lại.
Khi răng khôn mọc chèn ở trong cùng hàm răng, để tìm chỗ 'ngoi' lên, thông thường chúng sẽ gây ra sức ép chen chúc lên những chiếc răng gần đó.
Gọi là sâu răng tập thể vì ngoài việc bản thân răng khôn rất khó vệ sinh nên dễ bị sâu hơn các răng khác thì việc răng khôn mọc chen chúc cũng khiến cho việc đánh răng hàng ngày trở nên khó khăn hơn nhiều.
Thức ăn sẽ dễ bám vào kẽ răng hơn, khó lấy hơn từ đó dẫn tới việc răng bị sâu răng. Đặc biệt là răng gần cạnh răng khôn (răng số 7) sẽ dễ bị sâu do đồ ăn bám đọng và kẽ do răng mọc lệch tạo thành.
Nghiêm trọng hơn, răng khôn còn làm những chiếc răng khác bị liên lụy với chứng nha chu do vệ sinh răng miệng kém, hay bị tiêu chân răng, viêm mô tế bào...
Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?
Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.
Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.
Mất ngủ khi mang thai không chỉ là nỗi lo về sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của mẹ bầu. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng đúng các giải pháp hỗ trợ sẽ giúp mẹ cải thiện giấc ngủ nhanh chóng.
Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian quan trọng trong văn hóa người Việt, nhưng cũng là thời điểm gây ra những xáo trộn lớn về nhịp sinh học, chế độ dinh dưỡng và thói quen vận động. Những thay đổi đột ngột này dẫn đến hội chứng "mệt mỏi hậu kỳ nghỉ", làm suy giảm hệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ tái phát các bệnh lý mạn tính.
Thực tế một số trường hợp vô sinh hoặc chậm có thai khi đi khám phát hiện mắc u xơ tử cung. Vậy có phải tất cả bệnh nhân mắc u xơ tử cung đều khó có thai hay không?
Năm mới là thời điểm lý tưởng để bắt đầu hành trình cải thiện sức khỏe và vóc dáng thông qua việc xây dựng một kế hoạch tập luyện khoa học. Việc tập luyện không chỉ giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, cải thiện sức bền tim mạch mà còn mang lại lợi ích lâu dài như giảm nguy cơ bệnh tật, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện tâm trạng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu sức khỏe, việc thiết lập một kế hoạch cụ thể, phù hợp với nhu cầu cá nhân và duy trì thói quen tập luyện là điều tối quan trọng. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cách lập kế hoạch tập luyện hiệu quả, từ việc xác định mục tiêu đến cách duy trì động lực lâu dài.
Thực phẩm ôi thiu, nhiễm bẩn, kém vệ sinh là một trong những nguyên nhân chính gây ra các bệnh đường tiêu hóa, ung thư, dậy thì sớm, thai dị tật... và gây nhiều hệ lụy lâu dài cho sức khoẻ.