Nguyên nhân gây táo bón ở trẻ
Táo bón ở trẻ em được định nghĩa là tình trạng đi tiêu không thường xuyên, khoảng cách giữa các lần đi tiêu trên 3 ngày hoặc đi ít hơn 3 lần/tuần hoặc phân lớn, cứng và đau khi đi tiêu. Trong một số trường hợp, trẻ đi tiêu không hết hoàn toàn mặc dù đi tiêu hàng ngày gây ứ đọng phân trong đại tràng.
Ở trẻ nhỏ, táo bón phần lớn là do chức năng, nghĩa là bản thân trẻ không có tổn thương hay bất thường gì ở đường ruột, chiếm đến 90-95% các trường hợp. Nguyên nhân chính gây táo bón ở trẻ là do chế độ ăn uống sinh hoạt không hợp lý như: lười vận động, không uống đủ nước, sau dùng thuốc kháng sinh, đặc biệt là chế độ ăn thiếu chất xơ.
Thêm vào đó, những thay đổi nhỏ trong thói quen hàng ngày có thể gây táo bón. Ví dụ khi thay đổi môi trường sống, thói quen sinh hoạt như khi đi du lịch, thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt cả ngày tại trường học có thể khiến trẻ khó thích nghi dẫn đến khó đi tiêu hơn.
![]()
Trẻ táo bón lâu ngày sẽ gây hại tới sức khỏe.
(Ảnh minh họa)
Hầu hết những điều này sẽ dễ dàng thay đổi và không gây ra các vấn đề sức khỏe lâu dài. Tuy nhiên, nếu trẻ bị táo bón liên tục trong nhiều tháng mà không cải thiện được sẽ gây nhiều vấn đề cho sức khỏe như nứt/chảy máu hậu môn, phân ứ đọng lâu ngày khiến trực tràng bị giãn ra.
Táo bón mạn tính khiến trẻ cảm thấy khó chịu, thay đổi hành vi, hay cáu gắt. Trẻ thường xuyên bị đau vùng bụng, cảm thấy mệt mỏi, buồn nôn.
Hiện tượng khó tiêu sẽ kéo theo trẻ biếng ăn, ăn không ngon miệng, không tiêu hóa và hấp thụ được dinh dưỡng dẫn đến chậm phát triển về thể chất và trí tuệ. Ở một số trẻ táo bón nặng có thể gây tắc ruột do khối phân lớn mắc kẹt trong trực tràng.
Táo bón nhẹ có thể được điều trị bằng cách thay đổi chế độ ăn uống. Trẻ em bị táo bón hoặc nặng hơn thường phải dùng các chất làm mềm phân hoặc dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
Thay đổi chế độ dinh dưỡng - "chìa khóa" trị táo bón cho trẻ
Thay đổi chế độ dinh dưỡng là yếu tố quyết định kết quả điều trị táo bón ở trẻ. Theo các chuyên gia về tiêu hóa, chất xơ là nguồn thực phẩm giúp lợi khuẩn trong đường ruột phát triển, nó làm cho phân xốp, giúp cho nhu động ruột tăng co bóp. Chất xơ có tác dụng giữ nước trong phân, giúp giải quyết tình trạng táo bón.
Chất xơ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ruột. Vì vậy, bổ sung chất xơ đúng cách là biện pháp đầu tiên, hiệu quả trong dự phòng và điều trị bệnh táo bón.
Một số bậc cha mẹ cho rằng trẻ táo bón cần ăn rau để tăng cường chất xơ do đó ép trẻ ăn rất nhiều rau. Có trường hợp trẻ ăn quá nhiều rau nhưng vẫn bị táo, thậm chí trẻ không ăn được các thức ăn khác dẫn đến suy dinh dưỡng, thiếu chất...
![]()
Đột ngột cho trẻ tiêu thụ một lượng lớn chất xơ có thể gây đầy hơi và khó tiêu hơn.
Tuy nhiên, việc cho trẻ ăn nhiều rau một cách dồn dập với suy nghĩ tăng cường chất xơ không phải là cách tốt nhất để cải thiện tình trạng táo bón. Để đảm bảo lượng chất xơ hoạt động hiệu quả trong đường ruột, cách tốt nhất là tăng dần lượng chất xơ tiêu thụ, không nên cho trẻ ăn dồn dập.
ThS. BS Lê Trịnh Thủy Tiên, Chuyên khoa Dinh dưỡng, Hội Dinh dưỡng Lâm sàng Việt Nam cho biết, có 2 loại chất xơ là loại hoà tan trong nước và loại không tan trong nước. Khi ăn các món có chất xơ thì cần uống nhiều nước hay chất lỏng như canh để giúp đẩy chất xơ qua ruột dễ dàng. Do đó, khi cha mẹ tăng lượng chất xơ cho trẻ cần chú ý đi kèm với tăng lượng nước. Nếu không, phân sẽ có khối lượng lớn hơn nhưng vẫn khô. Điều này có thể làm cho tình trạng táo bón khó cải thiện hơn.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm - nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, khi trẻ bị táo bón thì cha mẹ nên tìm nguyên nhân: có thể do ăn thiếu rau xanh quả chín; uống không đủ nước, do bé phải dùng kháng sinh hoặc do bé sợ đi ngoài bẩn, gây đau hậu môn nên nhịn đi cầu dẫn đến táo bón. Khi trẻ bị táo bón, cha mẹ tăng cường cho ăn nhiều rau lá có nhiều chất xơ là đúng, nhưng nhớ cho con uống đủ nước.
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.