Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Bệnh Rubella

Bệnh rubella là bệnh truyền nhiễm do vi rút gây ra. Hội chứng rubella bẩm sinh là nguyên nhân quan trọng gây ra các khuyết tật trầm trọng cho trẻ sơ sinh

Bệnh Rubella là gì?

Rubella là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do virus rubella gây ra, với các triệu chứng như phát ban, sốt, sưng hạch bạch huyết. Bệnh rubella còn có một tên gọi khác là “bệnh sởi Đức”.  Bệnh lưu hành trên toàn thế giới, có thể xảy ra thành dịch. 

Tuy bệnh Rubella là một bệnh lây nhiễm không nguy cấp (không gây nên biến chứng nguy hiểm, không gây chết người) nhưng lại khá nghiêm trọng do có khả năng gây nên những dị tật bẩm sinh nặng nề ở bào thai.

Tên gọi bệnh rubella xuất phát từ tiếng Latin - nghĩa là những nốt chấm nhỏ.

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh rubella

Rubella là một bệnh gây nhiễm trùng nhẹ ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Một số trẻ thường không biểu hiện bất kỳ một triệu chứng nào. Mức độ nhiễm trùng có thể nặng hơn đối với thanh thiếu niên và người lớn. Triệu chứng thường xuất hiện khoảng 2-3 tuần sau khi nhiễm virus. Các triệu chứng điển hình bao gồm:

  • Sốt nhẹ.
  • Sưng hạch bạch huyết ở cổ và sau tai.
  • Ban đỏ, không ngứa mọc đầu tiên trên mặt sau đó lan ra thân mình (trừ lòng bàn tay, bàn chân). Ban dạng chấm nhỏ, màu hồng, chuyển thành màu trắng khi ấn vào. Ban thường xuất hiện khoảng một vài ngày sau sốt.
  • Đau khớp xương thường phổ biến đối với thanh thiếu niên và người lớn. Đau khớp xương thường diễn ra sau khi bị nổi ban đỏ và kéo dài khoảng vài tuần.

Không phải mọi ca bệnh đều có triệu chứng như nhau và đôi khi các bệnh khác cũng có biểu hiện tương tự, đặc biệt là triệu chứng phát ban. Hãy cho trẻ đi khám bác sỹ để được chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời.

Bệnh rubella lây truyền như thế nào?

 Bệnh Rubella lây truyền qua đường hô hấp, khi người lớn và trẻ em:

  • Hít phải những giọt dịch tiết đường mũi họng (nước bọt, nước mũi) có chứa virus của người bệnh khi tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt với người bệnh.
  • Tiếp xúc với các vật dụng, các bề mặt (sàn nhà, bàn ghế, đồ chơi…) có dính chất tiết mũi họng của người bệnh.

Yếu tố nguy cơ

Con bạn sẽ có nguy cơ nhiễm bệnh cao nếu:

  • Trẻ chưa được tiêm hoặc chưa tiêm đủ 02 liều vaccine MR phòng Sởi - Rubella hoặc vaccine MMR phòng sởi – quai bị - rubella.
  • Trẻ đi sang những vùng có dịch, bệnh mà chưa được tiêm chủng.
  • Trẻ sống trong điều kiện chật chội, thiếu ánh sáng, thiếu điều kiện vệ sinh, trẻ suy dinh dưỡng…
Dưới kính hiển vi, virus rubella trông giống những quả cầu nhỏ.
Biến chứng

Biến chứng nguy hiểm nhất gặp phải khi phụ nữ có thai bị mắc bệnh trong vòng 4 tháng đầu của thai kỳ. Người mẹ mang thai bị nhiễm rubella có thể truyền virus sang cho thai nhi gây những tai biến như sẩy thai, thai chết trong tử cung hoặc gây nên những dị dạng cho thai nhi sau khi sinh như: các khuyết tật về tim, đục thủy tinh thể, điếc bẩm sinh, chậm phát triển trí tuệ…Những bệnh này gọi là hội chứng rubella bẩm sinh.

Viêm khớp gối, khớp cổ tay và ngón tay là những biến chứng phổ biến ở thanh thiếu niên và nữ giới trưởng thành. Trong một số trường hợp hiếm gặp khác, rubella có thể làm giảm tiểu cầu gây xuất huyết hoặc gây viêm não.

Khi nào nên đưa trẻ đến bác sỹ

Nếu bạn nghi ngờ trẻ mắc bệnh rubella, hãy đưa trẻ đi bệnh viện ngay lập tức do trẻ có thể có nguy cơ lây bệnh cho những phụ nữ có thai trong cộng đồng.

Các bác sỹ sẽ khám và xét nghiệm máu để chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh, điều trị cho trẻ và hướng dẫn bạn cách chăm sóc.

Chăm sóc trẻ tại nhà

 Việc chăm sóc tại nhà chủ yếu là làm giảm triệu chứng:

  • Cho trẻ ăn thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây.
  • Trẻ cần được vệ sinh mũi họng (nhỏ mũi và súc họng) hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý NaCl 9‰.
  • Nếu nhức đầu nhiều hoặc đau khớp có thể sử dụng thêm thuốc giảm đau.
  • Lau mình mẩy hàng ngày cho trẻ bằng nước ấm.
Trẻ từ 12 tháng đến 18 tuổi cần được tiêm vaccin MMR để phòng bệnh.

Phòng bệnh

Phát hiện bệnh sớm để tránh lây lan cho người khác rất có ý nghĩa trong phòng bệnh.

Cách ly người bệnh: người bệnh sau khi được phát hiện phải cách ly càng sớm càng tốt.

  • Thời gian cách ly: từ lúc bắt đầu phát bệnh (phát ban) cho đến 7 ngày sau khi phát ban. Trẻ em nên nghỉ học, người lớn nên nghỉ làm, ở tại nhà trong thời gian cách ly.
  • Để người bệnh nghỉ ngơi ở trong một phòng riêng, có cửa sổ, thoáng mát, có đủ ánh nắng mặt trời.
  • Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng cho người bệnh (khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa, chăn, gối, màn…).
  • Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.
  • Vệ sinh phòng ở của người bệnh: Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi… của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng.

Phòng bệnh chủ động: Rubella có thể phòng tránh được bằng cách tiêm vaccine phòng bệnh Rubella. Hiện nay, tại Việt Nam, vaccine Rubella có thể được kết hợp trong Vaccin MR phòng Sởi và Rubella, được tiêm trong chương trình tiêm chủng mở rộng miễn phí cho trẻ em từ 1- 18 tuổi, với 2 liều tiêm. Hoặc bạn có thể cho trẻ tiêm vaccin MMR phòng sởi - quai bị - Rubella, khuyến cáo nên tiêm cho trẻ từ 1 -18 tuổi, nên tiêm 2 mũi, mũi thứ hai cách 2 – 3 năm sau khi tiêm mũi thứ nhất.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Vaccin MMR phòng sởi - quai bị - rubella cho trẻ em

Ths.Bs. Trần Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Tổng hợp
Bình luận
Tin mới
  • 27/09/2026

    Sốt xuất huyết Dengue - dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm không thể bỏ qua

    Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra, lây truyền qua vết đốt của muỗi vằn Aedes, phổ biến tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.

  • 27/09/2026

    Ăn sáng giàu protein có giúp kiểm soát đường huyết?

    Nhiều ý kiến cho rằng, ăn nhiều protein vào bữa sáng có thể giúp kiểm soát đường huyết. Thực tế thế nào?

  • 27/09/2026

    Tâm lý tuổi dậy thì THCS: Kết nối bạn bè và áp lực "phải người lớn"

    Giai đoạn Trung học cơ sở (THCS) đánh dấu một cột mốc chuyển giao quan trọng trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ. Đây là thời kỳ các em không còn là những đứa trẻ vô tư, nhưng cũng chưa thực sự trở thành người lớn. Chính sự lấp lửng này, kết hợp cùng những biến đổi mạnh mẽ từ bên trong lẫn bên ngoài, đã khiến nhiều học sinh rơi vào trạng thái chông chênh, dễ dẫn đến những bất ổn tinh thần nghiêm trọng. Việc thấu hiểu sâu sắc thế giới nội tâm của trẻ ở giai đoạn này là chìa khóa vàng giúp gia đình và nhà trường ngăn ngừa những hệ lụy về mặt sức khỏe tâm thần.

  • 26/09/2026

    Lời khuyên để sống lâu hơn khi mắc ung thư

    Khi mắc ung thư, có rất nhiều điều bạn có thể làm mỗi ngày để không chỉ vượt qua bệnh tật mà còn cảm thấy khỏe khoắn và tận hưởng cuộc sống một cách tốt nhất. Dù bạn đang trong quá trình điều trị hay đã hoàn tất, dưới đây là những lời khuyên giúp bạn tự chăm sóc bản thân.

  • 26/09/2026

    Tác dụng bất ngờ của quả bưởi đối với sức khỏe con người

    Khám phá hàm lượng dinh dưỡng và lợi ích thiết thực từ quả bưởi giúp bảo vệ cơ thể toàn diện.

  • 26/09/2026

    9 dấu hiệu bất ngờ báo hiệu cơn đau nửa đầu sắp xảy ra

    Các cơn đau nửa đầu có thể bao gồm giai đoạn tiền triệu với những dấu hiệu cảnh báo tinh tế cho thấy cơn đau nửa đầu sắp xảy ra. Khi bạn bắt đầu nhận ra các triệu chứng tiền triệu, bạn có thể bắt đầu điều trị đau nửa đầu ở giai đoạn sớm đó để giảm mức độ nghiêm trọng và thời gian của cơn đau.

  • 25/09/2026

    Bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác (AMD)

    Bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác thường gặp ở người già, bệnh gây nhiều khó chịu do thị lực của bạn bị kém đi, nhạy cảm với ánh sáng, gặp khó khăn khi phải đọc sách hay nhận diện khuôn mặt. Cùng tìm hiểu về bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác có triệu chứng gì và hiện nay đang có phương pháp nào điều trị bệnh qua bài viết sau!

  • 25/09/2026

    Ăn hơn 30 g đạm một bữa có bị lãng phí?

    Nhiều người tin cơ thể chỉ có thể hấp thụ 20–30 g đạm (protein) trong một bữa, phần ăn thêm sẽ bị lãng phí. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khoa học mới cho thấy đây là sự nhầm lẫn giữa khả năng hấp thụ đạm và mức kích thích tổng hợp protein cơ bắp.

Xem thêm