Các chuyên gia dinh dưỡng trên thế giới đều cho rằng mỗi tuần ăn cá 1-2 lần có ích cho sức khoẻ. Tuy nhiên, theo Thời báo Đời sống (Trung Quốc) một số người ăn cá sẽ không tốt cho sức khoẻ, thậm chí còn làm tổn hại cơ thể.
Người bị bệnh gút (Gout)
Cá, tôm, ngao sò và các loại hải sản khác có chứa nhiều purin. Trong khi đó, bệnh gút là do sự chuyển hoá purin trong cơ thể rối loạn gây ra. Vì vậy, người mắc bệnh đang trong thời kỳ phát tác cấp tính phải tuyệt đối tránh ăn tất cả các loại thịt và thực phẩm có hàm lượng purin cao.
Khi bệnh giảm, nên ăn thịt cá theo định lượng, không được hấp thụ quá nhiều một lần. Lúc này, có thể chọn ăn loại hải sản ít purin như cá trích, cá hồi, cá ngừ, cá trắng, tôm hùm. Hạn chế ăn cá chép, cá tuyết, cá bơn, cá vược, cá chình, lươn. Tuyệt đối không được ăn cá mòi, cá cơm và trứng cá là những loại cá có hàm lượng purin rất cao.
Bệnh nhân rối loạn về chảy máu
Trong mỡ cá có chứa axit eicosapentaenoic (EPA), có tác dụng ngăn ngừa cholesterol bám dính vào thành mạch máu, rất tốt đối với người bệnh xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, hấp thụ quá nhiều EPA sẽ ức chế kết tập tiểu cầu, dễ làm triệu chứng chảy máu trầm trọng thêm, không có lợi cho việc phục hồi bệnh.
Người có chức năng gan thận tổn hại nghiêm trọng
Thực phẩm nhóm cá có hàm lượng protein phong phú, hấp thụ quá nhiều sẽ tăng thêm gánh nặng cho gan, thận. Người có chức năng gan thận tổn hại nghiêm trọng nên ăn cá theo định lượng dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.
Người đang sử dụng thuốc
Chlorpheniramin, diphenhydramine thuộc loại chất đối kháng thụ thể histamine. Những thực phẩm giàu histidine như tôm cá vào trong cơ thể có thể chuyển hoá thành histamine. Nếu ăn chúng cùng với các loại thuốc trên sẽ dẫn tới các triệu chứng như chóng mặt, đau đầu, hồi hộp.
Người có cơ địa dị ứng
Những người đã từng bị dị ứng da do ăn hải sản nên thận trọng khi ăn cá, để tránh gây dị ứng lần nữa.
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.