
Xuất huyết não xảy ra khi mạch máu nằm tại não vỡ ra tràn vào các nhu mô não.
Mối nguy hiểm do xuất huyết não
Xuất huyết não hay đột quỵ chảy máu não, là tình trạng vỡ mạch não đột ngột, tràn vào các nhu mô não. Hậu quả là các mô não bị tổn thương gây phù, tụ máu, dẫn đến mất ý thức hoặc tử vong.
Xuất huyết não chỉ chiếm 10-15% số ca đột quỵ não và ít gặp hơn nhồi máu não. Tuy vậy, mức độ ảnh hưởng đến chức năng thần kinh do xuất huyết não sẽ nặng nề hơn.
Tùy vào vùng não bị chảy máu và khối máu tụ chèn ép, người bệnh có thể gặp dấu hiệu thần kinh khu trú như liệt nửa người, liệt dây thần kinh sọ…
Khi xuất huyết não diện rộng, người bệnh nguy kịch với dấu hiệu hôn mê, đồng tử giãn, suy hô hấp, suy tuần hoàn, rối loạn thân nhiệt, dấu hiệu của phù não, nguy cơ dẫn tới tử vong.
Khoảng một nửa người bệnh xuất huyết não tử vong khoảng vài tuần sau khi triệu chứng khởi phát. Trường hợp xuất huyết não do phình mạch máu, khoảng 1/3 số bệnh nhân tử vong trước khi kịp tới bệnh viện.
Ở bên trong não bộ có 3 lớp màng để che chở và bảo vệ não. Xuất huyết não sẽ xảy ra ở những vị trí như chảy máu ở dưới màng nhện, ngoài màng cứng, chảy máu nội sọ, chảy máu não thất…
Đa số bệnh nhân bị xuất huyết trong não khó có thể duy trì chức năng sinh hoạt như trước khi bị đột quỵ. Nếu may mắn bình phục sau tai biến, bệnh nhân ít nhiều gặp các di chứng như liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ, tiểu tiện không tự chủ, rối loạn nhận thức… Tỷ lệ phục hồi ở người bị chảy máu dưới nhện cao hơn, do hiện tượng xuất huyết diễn ra trên bề mặt não.
Những nguyên nhân thường gặp gây vỡ mạch não

Tăng huyết áp không được điều trị là nguyên nhân chính gây xuất huyết não.
Theo thống kê, nam giới và người cao tuổi là đối tượng có nguy cơ xuất huyết não cao hơn. Trong đó, nguyên nhân phổ biến gây vỡ mạch máu não dẫn tới đột quỵ xuất huyết não gồm:
- Tăng huyết áp: Người bệnh có cơn tăng huyết áp sẽ làm tăng áp lực lên thành mạch yếu và vỡ ra gây chảy máu não.
- Phình mạch não: Mạch máu trong não bị phình ra tại một vị trí nào đó, có hình dạng giống như một chiếc túi. Túi phình càng to thì thành mạch càng yếu và mỏng dần, chẳng may bị vỡ sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như đột quỵ xuất huyết não.Cải thiện di chứng đột quỵ não nhờ enzyme nattokinase
- Dị dạng mạch máu não: Các chứng dị dạng động tĩnh mạch hiếm gặp, chỉ xuất hiện trong 1% dân số. Tuy vậy, bệnh làm suy yếu mạch máu trong và xung quanh tại não, dễ gây nên xuất huyết não.
Biện pháp cải thiện và phục hồi di chứng sau xuất huyết não
Để dự phòng xuất huyết não, người bệnh cần kiểm soát tốt các yếu tố tim mạch như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch… Bên cạnh việc dùng thuốc điều trị theo chỉ định của bác sĩ, cần thực hiện chế độ ăn lành mạnh; Ăn giảm mặn; Ăn nhiều thực phẩm giàu kali; Kiêng rượu bia, thuốc lá.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Phòng tránh tăng huyết áp gây xuất huyết não.
Uống đủ nước có thể hỗ trợ giảm cân thông qua tăng nhẹ chuyển hóa, giảm cảm giác đói và thay thế đồ uống nhiều calo…
Ai cũng biết, phần lớn vi khuẩn chính là kẻ thù của con người. Vi khuẩn gần như tồn tại ở mọi nơi, mọi cơ quan trên cơ thể, chỉ cần có điều kiện thích hợp chúng sẽ có thể gây bệnh cho con người. Để tiêu diệt được vi khuẩn, loài người đã tạo ra kháng sinh.
Chảy máu mũi (còn gọi là chảy máu cam) có thể gây lo lắng, nhưng trong hầu hết các trường hợp, chảy máu cam rất dễ cầm và hiếm khi nghiêm trọng. Điều quan trọng là phải thực hiện cầm máu đúng cách và an toàn.
Việc duy trì thói quen sử dụng 6 loại đồ uống quen thuộc dưới đây là cách đơn giản để giúp gan phục hồi và giải độc, chăm sóc gan mỗi ngày.
Nhiều người cho rằng lão hóa đơn giản là hệ quả tất yếu của tuổi tác. Tuy nhiên, trong sinh học, lão hóa không chỉ là con số tuổi, mà là quá trình cơ thể dần mất đi khả năng tự bảo vệ, tự sửa chữa và thích nghi với môi trường.
Việc bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết để hỗ trợ khả năng sinh sản là vô cùng quan trọng khi cố gắng thụ thai.
Những món ăn nhẹ được gợi ý dưới đây không chỉ giúp người cao tuổi cảm thấy nhẹ nhàng mà còn hỗ trợ quá trình tiêu hóa và giảm mỡ bụng hiệu quả từ bên trong.
Viêm là một đáp ứng sinh lý thiết yếu của hệ miễn dịch trước các tác nhân gây tổn thương như chấn thương, nhiễm trùng hoặc kích thích hóa học