Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Vitamin và bệnh tim mạch

Tại nhiều nước trên thế giới, thống kê cho thấy tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, trong đó xơ mỡ động mạch giữ một vai trò quan trọng: 90% nguyên nhân có liên quan đến xơ mỡ động mạch.

 Xơ mỡ động mạch là tiến trình kéo dài trong nhiều năm và là kết quả của quá trình rối loạn mỡ trong máu.

Ngày nay người ta cho rằng sự tăng cao thành phần mỡ gây hại là LDL-cholesterol và giảm thành phần mỡ bảo vệ là HDL-cholesterol sẽ gây ra xơ mỡ động mạch. LDL-cholesterol cùng với hiện tượng oxy hoá góp phần quan trọng trong việc tạo ra mảng xơ mỡ. Chống được hiện tượng oxy hóa, sẽ làm chậm lại tiến trình xơ mỡ động mạch này, nghĩa là đã góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch.

                   Vitamin và bệnh tim mạch

Những nghiên cứu gần đây cho thấy có một số vitamin tham gia chống quá trình oxy hoá gây ra xơ mỡ động mạch như vitamin C (acid ascorbi), vitamin E (tocopherol), tiền vitamin A (caroten).

Ngoài các vitamin nêu trên, các yếu tố vi lượng khác có chứa các chất như đồng, kẽm là những yếu tố đồng vận giúp các enzym chống lại quá trình oxy hóa hoạt động tốt hơn.

Một nghiên cứu tại Cambrige (Anh) cho thấy khi dùng vitamin E liều cao (400 – 800 UI/ ngày) ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch vành do xơ mỡ động mạch, sau 200 ngày dùng thuốc thì nguy cơ nhồi máu cơ tim giảm 77% và nguy cơ bệnh tim mạch khác giảm 47°/o.

Một nghiên cứu khác đã được thực hiện trên bệnh nhân bị hẹp động mạch vành tim đã phẫu thuật. Nghiên cứu này so sánh giữa hai nhóm: một nhóm dùng thuốc điều trị xơ mỡ động mạch là Probucol l000mg/ngày phối hợp với vitamin C l000mg/ngày, vitamin E 1400 đơn vị/ngày, caroten l00mg/ngày so sánh với một nhóm khác chỉ dùng Probucol. Kết quả sau 6 tháng cho thấy nhóm có kết hợp với vitamin cho kết quả tốt hơn: giảm được 42°/o lượng mỡ trong máu.

Qua một vài nghiên cứu trên, ta thấy lợi ích của một số vitamin trong phòng ngừa bệnh xơ mỡ động mạch là rất lớn. Nhất là sự phối hợp vitamin C, vitamin E và caroten sẽ tốt hơn cho sức khỏe nếu chúng ta có điều kiện dùng các vitamin này.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cần lưu ý trong ăn uống để cung cấp đầy đủ các vitamin cần thiết.

Vitamin C có nhiều trong cây xanh, rau quả như chanh, cam, quýt, bưởi, bắp cải. Nhu cầu cơ thể về vitamin C có nhiều hơn các loại vitamin khác rất nhiều. Người lớn cần khoảng 50-100mg, nghĩa là lmg/kg thể trọng mỗi ngày; đối với trẻ em và phụ nữ có thai cần 100-200mg mỗi ngày. Vitamin C ngoài tác dụng tốt cho tim mạch còn có tác dụng chống lại bệnh cúm, điều này đã được biết từ vài chục năm trước đây: với liều dùng khá cao lg -4g/ ngày người ta có thể rút ngắn được 30% thời gian mắc bệnh cúm.

Caroten hay còn gọi là tiền vitamin A có trong tất cả các thực vật xanh, cà rốt, nhưng caroten là một hợp chất không bền sẽ phân giải nhanh chóng khi bị sấy khô. Caroten được giữ nhiều nhất bằng phương pháp ủ chua. Vitamin A trong thiên nhiên có trong dầu cá, bơ, trứng, sữa. Nguồn vitamin A chính này được tổng hợp dưới dạng acetat.

Vitamin E (tocopherol) cần cho nhu cầu cơ thể hàng ngày là 5mg. Công dụng của vitamin E đã được biết từ lâu với tác dụng chữa chứng bệnh vô sinh. Ngày nay vitamin E đều được sử dụng dưới dạng tổng hợp.

Các yếu tố vi lượng như magie, kẽm, đồng có nhiều trong thịt, trứng, sữa.

Như vậy khi đã được xác định có vấn đề về bệnh tim mạch và xơ mỡ động mạch, bạn nên bổ sung thêm các thức ăn giàu vitamin và tham khảo ý kiến của bác sĩ.

Theo Sức khỏe 24h
Bình luận
Tin mới
  • 24/10/2026

    Vắc xin EV71 giải pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng hiệu quả cho trẻ

    Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.

  • 24/10/2026

    Rối loạn kinh nguyệt ở người trẻ:

    Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.

  • 23/10/2026

    Tại sao ăn ít mà bụng vẫn to?

    Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.

  • 23/10/2026

    Phòng ngừa dị ứng thức ăn cho trẻ khi bắt đầu ăn dặm

    Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.

  • 23/10/2026

    Tăng huyết áp có nên ăn cá ngừ?

    Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.

  • 22/10/2026

    5 cách loại bỏ vi nhựa khỏi cơ thể bạn

    Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.

  • 22/10/2026

    Xây dựng thói quen chăm sóc bản thân cho người bệnh Crohn

    Bệnh Crohn không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất như đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người bệnh. Xây dựng một thói quen chăm sóc bản thân phù hợp chính là cách để sống chung với bệnh nhẹ nhàng hơn.

  • 21/10/2026

    Chỉ số HbA1c ở mức nào là nguy hiểm?

    HbA1c là chỉ số phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 3 tháng gần nhất, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường.

Xem thêm