Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Virus SARS-CoV-2 đột biến – khó khăn nào cho việc phát triển vaccine đặc hiệu?

Khi virus SARS-CoV-2 xuất hiện và lan rộng trên khắp thế giới, đã có những dự đoán rằng virus sẽ biến đổi thành một dạng nào đó nguy hiểm hơn và trở thành mối đe dọa thậm chí còn đáng sợ hơn đối với loài người.

“Đột biến”. Đây là từ gợi lên một cách tự nhiên về nỗi sợ hãi trước những thay đổi bất ngờ và quái dị. Những thông tin không mấy tích cực này được nêu ra trong nhiều cuộc thảo luận trong suốt thời gian đại dịch. Lý do là chúng ta cần phải nhìn virus SARS-CoV-2 một cách chính xác nhất.

Tuy nhiên, đột biến không nhất thiết là một điều gì đó quá tồi tệ. Mọi virus đều biến đổi vì đó là một phần của vòng đời chúng. Những thay đổi này không phải lúc nào cũng gây ra vấn đề nghiêm trọng.

Trong một số trường hợp, những đột biến đó có thể dẫn đến sản sinh một loại virus yếu hơn. Tuy nhiên, thông thường những thay đổi này thường rất nhỏ đến mức gần như không có sự khác biệt nào đáng chú ý trong tỷ lệ lây truyền và tử vong của bệnh.

Chủng mới của coronavirus đang biến đổi, nhưng rất chậm

Chủng mới của coronavirus là một loại virus sao chép mã RNA: một tổ hợp các “vật liệu di truyền” được bao gọn bên trong một lớp vỏ protein. Khi virus tiếp xúc với vật chủ, nó bắt đầu tạo ra các bản sao mới của chính nó dựa trên mã RNA để có thể tiếp tục lây nhiễm sang các tế bào khác.

Những virus dạng này như cúm và sởi, chúng rất dễ biến đổi và đột biến khi so sánh với virus sao chép mã DNA, chẳng hạn như virus herpes, virus đậu mùa hay virus HPV.

Đối với virus sao chép mã RNA, sự thay đổi là điều hoàn toàn bình thường. Virus SARS-CoV-2 cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, và trong vài tháng qua chúng đã có đột biến. Tuy nhiên, virus này biến đổi với tốc độ rất chậm và khi biến đổi, các bản sao mới cũng không khác quá nhiều so với virus gốc.

Đột biến không làm cho virus đáng sợ hơn?

Các chủng đột biến mới của virus - giống những chủng đang hoành hành tại Ý và New York, cho thấy dường như không có khả năng lây nhiễm hoặc gây tử vong cao hơn chủng ban đầu xuất hiện ở Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối tháng 12 năm 2019.

Khả năng virus này có thể biến đổi trở nên đáng sợ hơn là rất ít, và nếu có thể biến đổi thì virus này nhiều khả năng sẽ trở thành phiên bản yếu hơn so với phiên bản ban đầu. Hơn nữa, theo nghiên cứu cho thấy, hầu như tất cả các đột biến sẽ làm cho một phần của virus hoạt động kém hơn trước, và khiến cho các đột biến này xuất hiện và chết đi nhanh chóng. Cùng với đó, đặc điểm của chủng ban đầu và các thể đột biến của nó đa phần không khác biệt nhiều.

Điều này có ý nghĩa gì đối với công cuộc phát triển vaccine?

Các đột biến có thể sẽ không ảnh hưởng đến hiệu quả của vaccine COVID-19. Trên thực tế, bản chất đột biến chậm và thể nhẹ còn là tin tốt cho vaccine.

Theo các chuyên gia, hiện nay virus này vẫn rất giống với trình tự ban đầu đến nỗi thực sự các nhà khoa học không có nhiều lý do để nghĩ rằng những sự khác biệt này sẽ gây ra vấn đề nào đó cho việc phát triển vaccine. Vaccine hiện tại có xu hướng nhắm tới mục tiêu là một phiên bản sớm nhất của virus.

Lấy ví dụ về vaccine cúm chẳng hạn.

Vaccine phòng bệnh cúm hàng năm vẫn sử dụng một chủng được nghiên cứu từ năm 2009. Đó là dạng virus “tổ tiên” của các dạng khác nhau đã xuất hiện cho tới hiện nay, và sự khác biệt của các chủng sau này đối với chủng ban đầu không khiến các nhà khoa học lo ngại, vì phản ứng của vaccine này trên chủng ban đầu dường như mạnh mẽ hơn tất cả khi so sánh với các chủng đột biến phía sau. Thông thường, một chủng virus cũ sẽ bảo tồn đầy đủ các tính năng, mà nhờ đó, nó sẽ cung cấp khả năng miễn dịch đủ để chống lại hầu hết tất cả các nhóm biến thể sau này.

Tuy nhiên, virus cúm biến đổi nhanh và thất thường qua các năm. Hầu hết, hệ thống miễn dịch của chúng ta ghi nhớ khá tồi tệ trước các chủng virus cúm. Đó là lý do vì sao chúng ta cần tiêm vaccine cúm nhắc lại hàng năm. Nhưng cũng có những chủng virus biến đổi không khác nhiều so với ban đầu, và chúng ta đã có những vaccine rất hiệu quả để chống lại chúng. Có thể kể đến như vaccine sởi, quai bị, rubella. Do vậy, hoàn toàn có thể tin rằng chúng ta sẽ tạo ra một loại vaccine hiệu quả, cung cấp một khả năng miễn dịch lâu dài, thậm chí kể cả khi có đột biến xảy ra.

Miễn dịch sẽ kéo dài bao lâu?

Chưa thể nói chính xác là khả năng miễn dịch sẽ kéo dài bao lâu, bởi vì khi một khi nhiễm bệnh và khỏi bệnh, hệ thống miễn dịch của người đó có thể tự sinh kháng thể và có thể tự chống lại virus nếu tái nhiễm trong tương lai.

Nhiều chuyên gia tin rằng, đại dịch SARS năm 2003 mang đến nguồn cung cấp kháng thể miễn dịch chống lại virus SARS mạnh trong khoảng 2 năm. Sau khoảng 3 năm, các kháng thể chống virus SARS giảm dần và làm tăng trở lại cơ hội nhiễm virus lần nữa. Điều này có thể tương tự với COVID-19.

Ngay cả khi một người không còn đủ lượng kháng thể khi khả năng miễn dịch của họ đã bị bào mòn theo thời gian, một số tế bào vẫn sẽ hoạt động trở lại nếu chúng phát hiện ra virus cũ, và cơ thể vẫn sẽ sẵn sàng chiến đấu. Trong thời gian tới, chúng ta hy vọng sẽ tạo dựng được miễn dịch cộng đồng - từ vaccine cũng như từ miễn dịch tự nhiên của những người đã mắc bệnh để có thể loại bỏ căn bệnh này.

Tất nhiên, không có cách nào để dự đoán chính xác điều gì sẽ xảy ra và khả năng miễn dịch của cơ thể người sẽ kéo dài bao lâu. "Thời gian sẽ trả lời câu hỏi đó."

Điểm mấu chốt

Virus SARS-CoV-2 đã bị đột biến một số lần tính đến thời điểm hiện tại, và điều này khiến nhiều người tự hỏi là liệu các đột biến có thể dẫn đến nguy hiểm hơn hay không. Theo các chuyên gia, các đột biến mới rất giống với dạng ban đầu xuất hiện ở Vũ Hán, Trung Quốc, và dường như các dạng này thậm chí còn không nguy hiểm bằng dạng ban đầu.

Các đột biến ở thời điểm hiện tại rất giống nhau, và phát triển một loại vaccine có khả năng bảo vệ con người trước chủng virus ban đầu sẽ có khả năng bảo vệ cả trước những chủng đột biến mới. Việc cần thiết ngay bây giờ là nghiên cứu và phát triển loại vaccine này càng sớm càng tốt.

Tham khảo thêm thông tin tại: COVID-19 khác virus cảm cúm thông thường như thế nào?

Ts.Bs.Trương Hồng Sơn và Bs. Minh Khánh - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Theo Heathline
Bình luận
Tin mới
  • 25/02/2024

    Cách giúp con bắt nhịp học tập ngay sau Tết

    Sau kỳ nghỉ Tết kéo dài với nhiều hoạt động vui chơi, đa số trẻ thường có tâm lý thích chơi và ngại đi học. Vì vậy, chuẩn bị tâm lý, giúp trẻ sẵn sàng đi học trở lại sau Tết là điều được rất nhiều bậc phụ huynh quan tâm.

  • 25/02/2024

    Điều gì xảy ra với cơ thể khi bạn uống hơn 3 cốc cà phê mỗi ngày?

    Cà phê là thức uống quen thuộc hàng ngày của nhiều người. Tuy nhiên, uống nhiều hơn 3 cốc cà phê mỗi ngày có tốt cho sức khỏe không?

  • 25/02/2024

    Bệnh Fabry là gì?

    Bệnh Fabry là một rối loạn di truyền khi đó, trong cơ thể sẽ không có đủ enzyme cần thiết để phân hủy lipid (chất béo), được gọi là globotriaosylceramide (Gb3) tồn tại trong các tế bào. Điều này dẫn đến sự tích tụ chất béo trong các tế bào khắp cơ thể, có thể gây ra một số triệu chứng và biến chứng khác nhau.

  • 25/02/2024

    4 lợi ích khi dùng nước hầm xương thường xuyên

    Nước hầm xương thường được làm từ xương gà, lợn, bò... được nhiều người sử dụng trong nấu nướng. Không những tạo vị ngọt ngon cho món ăn, loại nước này còn mang lại nhiều lợi ích sức khoẻ.

  • 25/02/2024

    Giúp trẻ kiểm soát tác dụng phụ từ việc điều trị bệnh Leukemia

    Trẻ em là đối tượng dung nạp thuốc hóa trị tốt hơn so với người lớn nhưng vì cơ thể vẫn đang tăng trưởng và phát triển nên chúng phải đối mặt với những thách thức và tác dụng phụ đặc biệt trong quá trình điều trị bệnh Leukemia. Dưới đây là một số tác dụng phụ phổ biến mà con bạn có thể gặp phải trong quá trình điều trị bệnh Leukemia và những gì bạn có thể làm để kiểm soát chúng.

  • 24/02/2024

    Cải thiện giấc ngủ tuổi mãn kinh

    Tình trạng trằn trọc, mất ngủ thường xuất hiện khi chị em bước sang tuổi mãn kinh. Nguyên nhân là hormone thay đổi, gây ra cơn bốc hỏa và nhiều vấn đề cản trở giấc ngủ của phụ nữ

  • 24/02/2024

    Các dấu hiệu u xơ tử cung thường gặp

    U xơ tử cung khá phổ biến ở phụ nữ đang trong độ tuổi sinh sản. Tuy nhiên, các dấu hiệu u xơ tử cung ở giai đoạn đầu thường không rõ ràng, dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác.

  • 24/02/2024

    Nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai

    Những thay đổi về thể chất và nội tiết tố xảy ra trong thai kỳ làm tăng nguy cơ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ.

Xem thêm