1. Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh là gì?
"Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh" là một thuật ngữ chung bao hàm nhiều loại xét nghiệm mà bác sĩ có thể đề nghị hoặc tự thai phụ có thể chọn thực hiện trong khi mang thai.
Một số xét nghiệm sàng lọc trước sinh được thực hiện để xác định xem thai nhi có khả năng mắc các tình trạng sức khỏe cụ thể hoặc bất thường nhiễm sắc thể như hội chứng Down hay không. Những xét nghiệm sàng lọc này sẽ được thực hiện khi lần đầu tiên thai phụ đi khám thai, vì hầu hết được thực hiện trong tam cá nguyệt thứ nhất và thứ hai.
Xét nghiệm sàng lọc trước sinh chỉ có thể cho biết những rủi ro một tình trạng cụ thể nhưng không thể đảm bảo rằng một bệnh nào đó sẽ xảy ra. Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh thông thường nhằm tìm kiếm các vấn đề sức khỏe có thể ảnh hưởng thai kỳ hoặc thai nhi như xét nghiệm rối loạn dung nạp glucose kiểm tra bệnh đái tháo đường thai kỳ.
Những người mang thai có nguy cơ sinh con mắc một số bệnh lý cao hơn thường được làm thêm các xét nghiệm sàng lọc.
2. Thời điểm thực hiện các xét nghiệm sàng lọc trước sinh
Các xét nghiệm sàng lọc trong tam cá nguyệt đầu tiên ( 3 tháng đầu thai kỳ) có thể bắt đầu sớm nhất là sau 10 tuần, bao gồm xét nghiệm máu và siêu âm. Sẽ kiểm tra sự phát triển tổng thể của thai nhi và kiểm tra xem thai nhi có nguy cơ mắc các bệnh di truyền, chẳng hạn như hội chứng Down hay không. Hoặc cũng kiểm tra thai nhi để tìm các bất thường về tim, xơ, nang và các vấn đề về phát triển khác.
Các xét nghiệm sàng lọc trong tam cá nguyệt thứ hai ( 3 tháng giữa thai kỳ) có thể xảy ra trong khoảng từ 14 - 18 tuần. Chúng có thể liên quan đến xét nghiệm máu để kiểm tra thai phụ có nguy cơ sinh con mắc hội chứng Down hoặc dị tật ống thần kinh hay không.
Siêu âm thường diễn ra trong khoảng từ 18 - 22 tuần kiểm tra sức khỏe và các hoạt động của em bé. Nếu bất kỳ xét nghiệm sàng lọc nào trong số các xét nghiệm cho kết quả bất thường, có thể có các xét nghiệm theo dõi hoặc xét nghiệm chẩn đoán để cung cấp cho bác sĩ thông tin chi tiết hơn về thai nhi.

Siêu âm nhằm kiểm tra sức khỏe và các hoạt động của em bé.
3. Các xét nghiệm sàng lọc trong 3 tháng đầu thai kỳ
3.1 Siêu âm
Siêu âm sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của em bé trong tử cung: xác định kích thước và vị trí của thai nhi, xác nhận bất thường tiềm ẩn nào trong cấu trúc xương và các cơ quan đang phát triển.
Một phương pháp siêu âm đặc biệt nữa là siêu âm độ mờ da gáy, được thực hiện khá sớm từ tuần thứ 11 đến tuần thứ 14 của thai kỳ. Siêu âm này kiểm tra sự tích tụ của chất lỏng ở sau cổ của thai nhi, có thể phát hiện những bất thường trong nhiễm sắc thể của bào thai như hội chứng Down, bệnh lý tim bẩm sinh...
3.2 Xét nghiệm máu sớm
![]()
Xét nghiệm máu sớm để có thể phát hiện được người mẹ có nhiễm HIV, virus viêm gan B, giang mai...
Trong tam cá nguyệt đầu tiên, bác sĩ có thể yêu cầu hai loại xét nghiệm máu được gọi là xét nghiệm sàng lọc tích hợp tuần tự và sàng lọc tích hợp huyết thanh.
Đây là xét nghiệm được sử dụng để đo mức độ của một số chất trong máu, cụ thể là protein-A huyết tương liên quan đến thai kỳ và một loại hormone được gọi là gonadotropin màng đệm ở người.
Mức độ bất thường của một trong hai có nghĩa là có nguy cơ cao hơn về bất thường nhiễm sắc thể.
Ở lần khám sản đầu tiên, thai phụ được xét nghiệm máu để có thể phát hiện được người mẹ có nhiễm virus, nhiễm HIV, virus viêm gan B, giang mai, hay không. Xét nghiệm máu còn định xác định được nhóm máu nhằm kịp thời có được máu truyền khi trong tình trạng nguy kịch, Xét nghiệm máu cũng sẽ được sử dụng để kiểm tra nhóm máu và yếu tố Rh, xác định khả năng tương thích giữa Rh của bạn với thai nhi đang lớn. Bạn có thể là Rh-dương tính hoặc Rh-âm tính.
Hầu hết mọi người đều dương tính với Rh, nhưng nếu thai phụ âm tính với Rh, cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể ảnh hưởng đến bất kỳ lần mang thai nào sau đó. Khi có sự không tương thích Rh, hầu hết phụ nữ sẽ được tiêm một mũi globulin miễn dịch Rh vào tuần thứ 28 và tiêm lại một vài ngày sau khi sinh.
Không có xét nghiệm máu nào xác định được nhóm máu của thai nhi cho đến khi được sinh ra.
Xét nghiệm sàng lọc trước sinh triple test hay còn gọi là xét nghiệm bộ ba là loại xét nghiệm tầm soát sử dụng máu mẹ để tìm hiểu nguy cơ một số rối loạn bẩm sinh ở thai.
3.3 Lấy mẫu màng nhau
Lấy mẫu màng nhau là một xét nghiệm sàng lọc xâm lấn bao gồm việc lấy một phần mô nhỏ từ nhau thai. Bác sĩ có thể đề nghị xét nghiệm này sau khi có kết quả bất thường từ màn hình không xâm lấn trước đó.
Nó thường được thực hiện từ tuần thứ 10 đến tuần thứ 12 và được sử dụng để kiểm tra các bất thường về nhiễm sắc thể, như hội chứng Down và các tình trạng di truyền, chẳng hạn như bệnh xơ nang.
Có hai loại CVS ( xét nghiệm sinh thiết gai nhau). Một loại xét nghiệm qua bụng, được gọi là xét nghiệm qua ổ bụng và một loại xét nghiệm qua cổ tử cung, được gọi là xét nghiệm xuyên cổ tử cung.
4. Các xét nghiệm sàng lọc trong 3 tháng giữa của thai kỳ
4.1 Siêu âm
Trong tam cá nguyệt thứ hai, siêu âm chi tiết hơn, thường được gọi là khảo sát giải phẫu thai nhi, được sử dụng để đánh giá em bé cẩn thận từ đầu đến chân về bất kỳ vấn đề phát triển nào.
Mặc dù siêu âm trong tam cá nguyệt thứ hai không thể loại trừ tất cả các vấn đề có thể xảy ra với em bé của bạn - đó là những gì mà màn hình bổ sung được mô tả bên dưới có thể hỗ trợ - điều này rất hữu ích cho bác sĩ sản phụ khi đánh giá các bộ phận cơ thể của em bé.
4.2 Kiểm tra glucose
Xét nghiệm sàng lọc glucose để kiểm tra bệnh đái tháo đường thai kỳ, một tình trạng có thể phát triển trong thai kỳ nhưng thường là tạm thời và được giải quyết ngay sau khi sinh con.
Đái đường thai kỳ có thể làm tăng nhu cầu sinh mổ vì trẻ sơ sinh của những thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ thường sinh ra lớn hơn. Trẻ cũng có thể có lượng đường trong máu thấp trong những ngày sau khi sinh.
Nếu mức độ đường cao, bác sĩ sẽ lên lịch kiểm tra dung nạp glucose lâu hơn. Nếu thai phụ có kết quả dương tính với bệnh đái tháo đường thai kỳ, người mẹ có nguy cơ cao mắc bệnh đái tháo đường trong vòng 10 năm sau đó, vì vậy nên đi xét nghiệm lại sau khi mang thai.
4.3 Chọc dò màng ối
![]()
Xét nghiệm chọc dò màng ối để tìm các bất thường về di truyền.
Trong quá trình chọc dò màng ối, thai phụ sẽ được lấy nước ối ra khỏi tử cung để xét nghiệm. Nước ối bao quanh em bé khi mang thai chứa các tế bào thai nhi có cùng cấu trúc gen với em bé, cũng như các chất hóa học khác nhau do cơ thể em bé tạo ra.
Xét nghiệm chọc dò màng ối để tìm các bất thường về di truyền như hội chứng Down và tật nứt đốt sống. Chọc dò màng ối di truyền thường được thực hiện sau tuần thứ 15 của thai kỳ và có thể được xem xét nếu:
Xét nghiệm sàng lọc trước sinh cho kết quả bất thường
Đã có một bất thường nhiễm sắc thể trong lần mang thai trước đó
Mẹ 35 tuổi trở lên mới mang thai
Có tiền sử gia đình về một chứng rối loạn di truyền cụ thể
Hoặc đối tác là người mang chứng rối loạn di truyền đã biết
5. Xét nghiệm sàng lọc cuối thai kỳ
Kiểm tra liên cầu nhóm B
Liên cầu nhóm B là một loại vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng ở phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Liên cầu nhóm B thường được tìm thấy trong miệng, họng, đường ruột dưới, âm đạo ở phụ nữ khỏe mạnh.
Liên cầu nhóm B trong âm đạo hầu như không có hại bất kể khi đang mang thai. Tuy nhiên, lại rất có thể có hại cho trẻ sơ sinh nếu trẻ được sinh bằng đường âm đạo và chưa có hệ thống miễn dịch khỏe. Do đó, liên cầu nhóm B có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh tiếp xúc trong khi sinh.
Phụ nữ mang thai có thể được kiểm tra liên cầu khuẩn bằng một miếng gạc lấy từ âm đạo và trực tràng của bạn khi được 36 đến 37 tuần. Nếu kết quả xét nghiệm dương tính với liên cầu nhóm B, bạn sẽ nhận được thuốc kháng sinh trong khi chuyển dạ để giảm nguy cơ nhiễm liên cầu nhóm B cho con.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sữa mẹ rất giàu chất béo và năng lượng.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.