Nguyên nhân nào gây bệnh?
Chấn thương: Chấn thương mạnh vào vùng vai, hoặc là những chấn thương do nghề nghiệp, thói quen, thể thao gặp ở người trẻ.
Viêm gân, thoái hoá, vôi hoá phần mềm (thường gặp ở người trên 50 tuổi): bệnh cột sống cổ như thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm, bệnh ở phổi, màng phổi, trung thất...
Liên quan thời tiết: lạnh và ẩm. Một số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân.
Nhận diện các thể bệnh
Tùy theo tổn thương bệnh biểu hiện bởi 3 thể:
Viêm quanh khớp vai đơn thuần: có những dấu hiệu đau ở mỏm cùng vai, mặt trước và mặt ngoài vai, đau tăng khi vận động, nhất là động tác dang tay ra ngoài, giơ tay lên trên và động tác gãi lưng; không sưng nóng đỏ vùng khớp vai; bệnh nhân đau khi ấn vào: mỏm cùng vai, mặt trước xương cánh tay, gân cơ nhị đầu trong rãnh cơ nhị đầu cánh tay, gân cơ tam đầu cánh tay; các động tác vận động khớp vai không bị hạn chế, hoặc chỉ hạn chế ít do đau. Chụp Xquang khớp vai không có bất thường. Bệnh tiến triển nhẹ, đau giảm dần rồi khỏi trong vài tuần, nhưng hay tái phát.
Viêm quanh khớp vai thể đông cứng: Triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp vai do co cứng bao khớp, diễn biến qua 3 giai đoạn: đau khớp vai đơn thuần, kéo dài vài tuần; nghẽn tắc, kéo dài từ vài tháng đến hằng năm với biểu hiện đau giảm dần, nhưng hạn chế vận động lại tăng, các động tác đều hạn chế, nếu bệnh lâu ngày có thể thấy teo cơ nhẹ do giảm vận động, nhất là nhóm cơ trên gai và cơ dưới gai; giai đoạn hồi phục: hạn chế vận động giảm dần, mọi cử động của khớp vai trở về bình thường, không để lại di chứng.
Hội chứng vai - tay: gồm các tổn thương viêm quanh khớp vai thể đông cứng giai đoạn nghẽn tắc và rối loạn thần kinh vận mạch ở bàn tay. Bệnh nhân bị đau và hạn chế vận động khớp vai kiểu nghẽn tắc. Bàn tay bị rối loạn thần kinh vận mạch: phù bàn tay lan lên một phần cẳng tay, phù cứng, màu da đỏ tía hoặc tím, da lạnh. Đau nhức cả bàn tay suốt ngày đêm. Móng tay mỏng, giòn, dễ gãy. Các cơ của bàn tay teo rõ, vận động bàn tay, ngón tay hạn chế.
Bệnh tiến triển kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm, các triệu chứng giảm dần rồi khỏi, nhưng để lại di chứng teo cơ, giảm trương lực cơ và hạn chế vận động bàn tay. Ở một số bệnh nhân bệnh tái phát khi cử động mạnh đến vai hay bàn tay.

Khớp vai bị viêm gây giảm hoạt động, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Các phương pháp điều trị hiện nay
Điều trị viêm quanh khớp vai có thể dùng một hoặc nhiều hơn các phương pháp phối hợp như sau:
Điều trị bằng thuốc: Có thể sử dụng các thuốc chống viêm giảm đau non-steroid hoặc steroid đường uống hoặc tiêm bắp. Tiêm corticoid tại chỗ: thuốc thường sử dụng là depomedrol hoặc diprospan.
Phương pháp vật lý: dùng nhiệt tại chỗ như dùng paraffin để chống đau mềm gân; dùng sóng ngắn để chống viêm, sóng siêu âm để chống dính cứng tắc nghẽn; điện di novocain hay salicylat để giảm đau chống viêm; điện xung để giảm đau.
Kéo nắn là phương pháp có hiệu quả tốt, nhất là với thể đông cứng tắc nghẽn, thầy thuốc khám xác định vùng bao khớp co cứng nhiều, kỹ thuật viên vừa kéo giãn khớp vai vừa đẩy chỏm xương cánh tay về cùng phía bao khớp co cứng với lực khoảng 7 - 10kg để làm giãn phần bao khớp co cứng giải phóng tình trạng kẹt khớp, khi kéo nắn, bệnh nhân không bị đau mới đúng, nếu đau cần chuyển hướng kéo nắn cho thích hợp.
Nếu người bệnh được hướng dẫn và tự giác tập vận động khớp vai thì khả năng hồi phục chức năng sẽ nhanh, ngược lại nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, luyện tập quá mức, thời gian khỏi bệnh sẽ kéo dài hơn. Vì vậy khi bị đau quanh khớp vai bệnh nhân cần đến các cơ sở y tế khám và điều trị phục hồi chức năng để hạn chế biến chứng.
Người bệnh cần chế độ sinh hoạt vận động hợp lý. Trong giai đoạn đau vai cấp tính cần để cho vai được nghỉ ngơi. Tránh lao động nặng và các động tác đưa tay lên quá đầu lặp đi, lặp lại.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Viêm bao dính khớp vai.
Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?
Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.
Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.
Mất ngủ khi mang thai không chỉ là nỗi lo về sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của mẹ bầu. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng đúng các giải pháp hỗ trợ sẽ giúp mẹ cải thiện giấc ngủ nhanh chóng.
Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian quan trọng trong văn hóa người Việt, nhưng cũng là thời điểm gây ra những xáo trộn lớn về nhịp sinh học, chế độ dinh dưỡng và thói quen vận động. Những thay đổi đột ngột này dẫn đến hội chứng "mệt mỏi hậu kỳ nghỉ", làm suy giảm hệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ tái phát các bệnh lý mạn tính.
Thực tế một số trường hợp vô sinh hoặc chậm có thai khi đi khám phát hiện mắc u xơ tử cung. Vậy có phải tất cả bệnh nhân mắc u xơ tử cung đều khó có thai hay không?
Năm mới là thời điểm lý tưởng để bắt đầu hành trình cải thiện sức khỏe và vóc dáng thông qua việc xây dựng một kế hoạch tập luyện khoa học. Việc tập luyện không chỉ giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, cải thiện sức bền tim mạch mà còn mang lại lợi ích lâu dài như giảm nguy cơ bệnh tật, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện tâm trạng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu sức khỏe, việc thiết lập một kế hoạch cụ thể, phù hợp với nhu cầu cá nhân và duy trì thói quen tập luyện là điều tối quan trọng. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cách lập kế hoạch tập luyện hiệu quả, từ việc xác định mục tiêu đến cách duy trì động lực lâu dài.
Thực phẩm ôi thiu, nhiễm bẩn, kém vệ sinh là một trong những nguyên nhân chính gây ra các bệnh đường tiêu hóa, ung thư, dậy thì sớm, thai dị tật... và gây nhiều hệ lụy lâu dài cho sức khoẻ.