Trong u xơ tuyến tiền liệt (UXTTL), tuyến tiền liệt tăng kích thước và ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu và tiểu khó. Có rất ít mối liên hệ giữa các triệu chứng của u xơ tuyến tiền liệtvới ung thư tuyến tiền liệt.

U xơ tuyến tiền liệt không phải là bệnh lý ác tính mà là sự phì đại lành tính của TTL xảy ra ở nam giới lớn tuổi, do đó còn gọi là phì đại TTL lành tính.Tuyến tiền liệt (TTL) là một cơ quan nhỏ có kích thước khoảng 2cm đường kính, nằm dưới bàng quang (nơi chứa đựng nước tiểu) và bao bọc xung quanh niệu đạo (là ống dẫn nước tiểu ra khỏi bàng quang). Chính vì tuyến bao quanh niệu đạo nên nếu bị phì đại tuyến tiền liệt sẽ gây cản trở dòng nước tiểu từ bàng quang ra niệu đạo; làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn về tiểu tiện (đái khó, tia nước tiểu yếu, đái dắt, đái đêm nhiều lần...). Nếu nặng có thể gây bí đái mạn tính dẫn đến viêm bàng quang, viêm đường tiết niệu thậm chí suy thận. Người bệnh thường đến khám khi xuất hiện các triệu chứng về rối loạn tiểu tiện hoặc bí đái cấp tính.
U xơ tuyến tiền liệt nhìn chung thường bắt đầu vào độ tuổi trung niên ở người đàn ông, tiến triển từ từ và thường chỉ gây ra triệu chứng sau 50 tuổi. Theo thống kê ở Việt Nam hiện nay có tới 45-70% số nam giới trong độ tuổi từ 45-75 mắc căn bệnh này, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn. Còn tại Hoa Kỳ có hơn một nửa đàn ông độ tuổi từ 60-70 và khoảng 90% ở độ tuổi từ 70-90 có triệu chứng của u xơ tuyến tiền liệt.
Làm thế nào để phát hiện u xơ tuyến tiền liệt?
Để phát hiện tuyến tiền liệt, thông thường nhất là áp dụng phương pháp siêu âm và thăm khám TTL qua đường hậu môn. Ngoài ra còn có các phương pháp thăm dò hình ảnh khác như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hạt nhân... Nhưng siêu âm là phương pháp phổ thông và tiện dụng nhất, người bệnh cần nhịn tiểu để cho bàng quang căng to thì đánh giá TTL mới chính xác được. Siêu âm không những đánh giá về mặt hình thể mà còn giúp đánh giá được khối lượng TTL, kích thước, tính chất (âm đồng đều hay không đồng đều...) và đo được lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang (sau khi người bệnh đi tiểu hết) để đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh.

Cắt lạnh và cắt đốt u xơ tuyến tiền liệt tại BVTW Huế.
Vậy điều trị và theo dõi tuyến tiền liệt như thế nào?
Không phải tất cả bệnh nhân bị tuyến tiền liệt đều phải điều trị. Những người không bị ảnh hưởng nhiều bởi các triệu chứng của tuyến tiền liệt thì thường không điều trị nhưng phải được kiểm tra định kỳ để xem tình trạng bệnh có trở nên xấu đi hay không, đặc biệt cần xét nghiệm PSA để xem có bị ung thư tuyến tiền liệt hay không mà xử trí kịp thời.
Điều trị nội khoa: Với những người có triệu chứng rối loạn về tiểu tiện ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày thì trước mắt phải điều trị nội khoa. Các thuốc được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là thuộc nhóm ức chế alpha 1 có tác dụng làm giãn cơ trơn thành mạch, TTL và cổ bàng quang giúp làm giảm bớt tình trạng tắc nghẽn niệu đạo do phì đại TTL. Ví dụ: alfuzosin, terazosin, doxazosin... Các thuốc ức chế alpha 1 không làm “tiêu” bướu mà chỉ giúp tiểu dễ do cổ bàng quang và niệu đạo dễ mở rộng khi đi tiểu. Thuốc này cũng làm giãn một số cơ vòng khác trong cơ thể và gây tác dụng phụ như giảm huyết áp. Chưa có thuốc nào được chứng minh là làm bướu nhỏ đi. Ngoài ra còn một số thuốc khác như các thuốc kháng androgen như ức chế men 5-alpha reductase như finasteride (proscar) và dutasteride thường được dùng phối hợp với thuốc trên để làm giảm triệu chứng. Tác dụng phụ của thuốc bao gồm giảm ham muốn tình dục, các vấn đề về cương dương hay phóng tinh.
Điều trị bằng ngoại khoa hầu như là để giảm triệu chứng. Hiện nay phổ biến nhất là áp dụng phương pháp cắt bỏ TTL bằng nội soi qua đường niệu đạo. Khi TTL quá to, không sử dụng được phương pháp cắt nội soi thì phải mổ bóc tuyến tiền liệt. Ở phương pháp này, bác sĩ rạch một đường ở bụng hay giữa bìu và hậu môn để lấy đi mô TTL.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.
Dưa chuột được xem là thực phẩm có lợi cho người mỡ máu cao nhờ thành phần giàu nước và chất xơ. Tuy nhiên, để hỗ trợ kiểm soát mỡ máu hiệu quả, việc sử dụng dưa chuột đúng cách và hợp lý là điều không phải ai cũng nắm rõ.
Đau lưng đã trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt phổ biến ở dân văn phòng do thói quen ngồi làm việc lâu, dễ dẫn đến thoát vị đĩa đệm. Khi cơn đau kéo dài trên 3 tháng, đó là dấu hiệu của đau lưng mãn tính. Để kiểm soát và cải thiện tình trạng này, điều quan trọng là phải hiểu rõ căn nguyên và áp dụng các giải pháp phù hợp như thay đổi thói quen và thực hiện các bài tập chuyên biệt. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các nguyên nhân cốt gây ra chứng đau lưng mãn tính và các phương pháp khoa học giúp điều trị đau lưng hiệu quả.
Sau Tết, nhu cầu giảm cân tăng cao nhưng các phương pháp “thần tốc” tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi người dân phải tỉnh táo lựa chọn giải pháp an toàn và khoa học.
Danh sách 291 mỹ phẩm bị thu hồi
Thảo dược là tập hợp các thực vật đã được nhân loại sử dụng trong chăm sóc sức khỏe từ lâu đời.