Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Tụ máu: Những điều cần biết - Phần 1

Tụ máu là một vấn đề phổ biến xảy ra khi một trong các mạch máu lớn trong cơ thể bị tổn thương. Hầu hết mọi người đều bị tụ máu ít nhất một lần trong đời. Bên ngoài, tụ máu trông tương tự các vết bầm tím, nhưng các vết bầm được hình thành do tổn thương các mạch máu nhỏ, thay vì các mạch máu lớn.

Phần lớn các khối tụ máu thường không gây nguy hiểm. Tuy nhiên cũng có các khối tụ máu ám chỉ các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Bất cứ ai bị thương do tai nạn hoặc bị trấn thương ở vùng đầu, hãy đến các cơ sở y tế để kiểm tra các dấu hiệu tụ máu trong.

Tụ máu là gì?

Thuật ngữ khối tụ máu là để chỉ một ổ máu tụ lại bên ngoài các mạch máu lớn, thường là hệ quả của các chấn thương.

Chấn thương làm vỡ các thành mạch, khiến cho máu tràn ra các vùng mô xung quanh.

Các khối tụ máu có thể hình thành tại bất cứ mạch máu nào, bao gồm tĩnh mạch, động mạch, và cả các mao mạch. Cũng vì vậy, bản chất của các khối tụ máu có thể khác nhau tùy vào vị trí của chúng.

Tụ máu cũng có điểm tương tự như xuất huyết. Tuy nhiên, xuất huyết là khi máu vẫn còn đang chảy, còn tụ máu là khi máu đã vón cục bên ngoài mạch máu.

Các loại tụ máu

Các loại tụ máu phụ thuộc vào vị trí chúng xuất hiện trong cơ thể. Hơn nữa, vị trí các khối tụ máu xuất hiện cũng có thể giúp xác định mức độ nguy hiểm của chúng.

  • Tụ máu ở tai: Khối tụ máu ở tai xuất hiện ở giữa lớp sụn và da trên lớp sụn đó. Khối tụ máu này xuất hiện phổ biến sau các chấn thương vùng đầu, thường thấy ở các vận động viên đô vật, võ sĩ, v...v...
  • Tụ máu dưới móng: Đây là khối tụ máu xuất hiện dưới móng tay hoặc móng chân, thường thấy trong các chấn thương nhẹ, ví dụ như khi bị rơi vật nặng vào chân
  • Tụ máu dưới da đầu: Khối tụ máu này thường xuất hiện như một cục u ở trên đầu. Tuy nhiên, khối tụ máu này xuất hiện do tổn thương vùng cơ và da bên ngoài nên không ảnh hưởng đến não.
  • Tụ máu ở vách ngăn mũi: Khối tụ máu này là hệ quả của mũi bị gãy và có thể sẽ gây ra một vài vấn đề về xoang nếu không được điều trị.
  • Tụ máu dưới da: Đây là khối tụ máu xuất hiện ngay bên dưới da và thường là ở các mạch máu gần với bề mặt da.
  • Tụ máu sau phúc mạc: Khối tụ máu này xuất hiện trong khoang bụng nhưng không ở trong một nội tạng nào.
  • Tụ máu ở lá lách: Là các khối tụ máu xuất hiện bên trong lá lách.
  • Tụ máu ở gan: Là các khối tụ máu xuất hiện bên trong gan.
  • Tụ máu ngoài màng cứng cột sống: Khối tụ máu xuất hiện giữa lớp màng bao quanh tủy sống và các đốt sống.
  • Tụ máu ngoài màng cứng nội sọ:  Đây là khối tụ máu xuất hiện giữa xương sọ và lớp màng cứng của não.
  • Tụ máu dưới màng cứng: Xuất hiện giữa não bộ và lớp màng cứng bao quanh não.

Nguyên nhân gây tụ máu

Chấn thương là nguyên nhân phổ biến nhất gây tụ máu. Bất cứ tổn thương nào lên thành mạch đều có khả năng gây vỡ thành mạch và chảy máu. Lượng máu này sẽ tụ lại một chỗ và tạo thành một khối máu tụ.

Các chấn thương gây ra tụ máu cũng không nhất thiết phải là các chấn thương nặng. Ví dụ như, một người có thể bị tụ máu dưới móng chân đơn giản chỉ vì bị vấp hay kẹp ngón chân.

Các chấn thương nghiêm trọng hơn như chấn thương do tai nạn giao thông, ngã từ một độ cao nhất định, hoặc phình động mạch có thể gây ra các khối tụ máu nghiêm trọng.

Hơn nữa, các thủ thuật ngoại khoa, bao gồm cả nha khoa hay thẩm mỹ cũng có thể gây ra các khối tụ máu do các thủ thuật này đều có thể gây tổn thương các mô cùng hệ thống mạch máu lân cận.

Một vài loại thuốc chống đông máu cũng có thể làm tăng nguy cơ gây tụ máu. Những người thường xuyên uống aspirin, warfarin, hoặc dipyridamole (Persantine) có khả năng gặp các vấn đề về chảy máu nhiều hơn, bao gồm cả tụ máu.

Tuy nhiên, tụ máu cũng có thể xuất hiện mà không có nguyên nhân rõ ràng.  

Triệu chứng

Đối với những khối tụ máu gần bề mặt thì các triệu chứng có thể bao gồm:

  • Đổi màu
  • Sưng, viêm
  • Đau khi ấn vào
  • Đỏ
  • Vùng da quanh khối tụ máu ấm hơn so với các vùng da khác
  • Đau

Những khối tụ máu ở sâu bên dưới thường khó phát hiện hơn, thường thấy ở những người gặp tai nạn hoặc gặp những chấn thương nặng. Trong những trường hợp ấy, người bệnh nên thường xuyên đi kiểm tra để phát hiện những khối tụ máu ở sâu bên trong.

Hơn nữa, những khối tụ máu trong hộp sọ có thể đặc biệt nghiêm trọng. Cho dù đã đi kiểm tra sau khi bị chấn thương thì vẫn nên chú ý đến các triệu chứng sau:

  • Đau đầu nghiêm trọng và ngày càng nặng thêm
  • Đồng tử không đều
  • Khó khăn khi cử động chân tay
  • Mất thính giác
  • Khó nuốt
  • Buồn ngủ
  • Mất ý thức

Những triệu chứng có thể không xuất hiện ngay lập tức, nhưng thường sẽ xuất hiện sau một vài ngày. Một nghiên cứu năm 2014 đã ghi nhận rằng các triệu chứng của tụ máu dưới màng cứng thường xuất hiện trong vòng 72 giờ sau chấn thương.

Phân biệt bầm tím với tụ máu

Dấu hiệu đổi màu và đau ở vùng bị tổn thương thường làm mọi người tin rằng bầm tím với tụ máu là một.

Tuy nhiên, bầm tím xảy ra khi những mạch máu nhỏ bị vỡ, tạo nên những vùng da tím, xanh, hoặc sậm màu. Vết bầm sẽ đổi màu theo thời gian viết thương lành, màu vết bầm sẽ sáng hơn hoặc chuyển màu vàng trước khi mất hẳn. Thông thường, các vết bầm đều không nghiêm trọng.

Ngược lại, khối tụ máu hình thành khi máu chảy từ các mạch máu lớn hơn. Vết máu tụ nhìn trên da có thể có màu xạnh đậm hoặc đen, nhưng cũng có thể gây tấy đỏ vùng bị tổn thương. Nếu khối tụ máu được hình thành từ các chấn thương nghiêm trọng thì sẽ cần điều trị y tế.

Hầu hết các vết bầm tím đều sẽ tự lành mà không cần chữa trị. Hiếm có các vết bầm tím nghiêm trọng nhưng chúng có thể gây tổn thương đến các mô sâu hơn hoặc các nội tạng, và cần được điều trị để phòng ngừa nhiễm trùng.

Nhiều người dễ bị bầm tím hơn những người khác, bao gồm những người bị thiếu máu, thiếu vitamin và những người sử dụng thuốc chống đông máu. 

(Còn tiếp)

Dương Thùy Anh - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Theo Medical News Today
Bình luận
Tin mới
  • 03/04/2025

    Đẻ mắc vai hay dấu hiệu “con rùa” trong sản khoa

    Đẻ mắc vai hay còn gọi là dấu hiệu “con rùa” - là tình trạng xảy ra khi một hoặc cả hai vai của em bé bị kẹt trong quá trình sinh thường. Không có dấu hiệu báo trước và không có cách nào để ngăn ngừa tình trạng này xảy ra. Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể bao gồm việc em bé quá lớn, xương chậu của mẹ nhỏ hoặc đỡ đẻ sai tư thế. Tình trạng này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng bao gồm cả chấn thương thần kinh cho em bé. Cùng đọc bài viết sau để hiểu thêm về tình trạng này!

  • 02/04/2025

    Nâng cao tầm vóc Việt

    Tầm vóc không chỉ là thước đo chiều cao đơn thuần mà còn phản ánh sức khỏe và sự phát triển toàn diện của một dân tộc. Tuy nhiên, thực trạng chiều cao của người Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế so với bạn bè quốc tế

  • 01/04/2025

    Tăng cường miễn dịch cho trẻ mùa xuân

    Mùa xuân đến, mang theo không khí ấm áp và sức sống mới cho vạn vật. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm giao mùa, khí hậu biến đổi thất thường, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, virus và mầm bệnh sinh sôi phát triển.

  • 01/04/2025

    Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ: Hiểu đúng và đồng hành cùng người tự kỷ

    Ngày 2 tháng 4 hàng năm, thế giới cùng hướng về Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ – một sự kiện do Liên Hợp Quốc khởi xướng nhằm kêu gọi sự quan tâm sâu sắc hơn đến rối loạn phổ tự kỷ (ASD).

  • 31/03/2025

    Chăm sóc da cho bé vào mùa xuân: Mẹo nhỏ cho mẹ

    Mùa xuân là thời điểm giao mùa, khí hậu thất thường, hanh khô, độ ẩm thấp, dễ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến làn da nhạy cảm của trẻ nhỏ.

  • 30/03/2025

    Những thay đổi về làn da tuổi mãn kinh

    Tuổi mãn kinh không chỉ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe sinh lý nữ, mà còn ảnh hưởng đến làn da. Chị em phụ nữ nên lưu ý điều gì khi chăm sóc da tuổi ngoài 40?

  • 30/03/2025

    Người cao tuổi và bệnh giao mùa

    Giao mùa là thời điểm chuyển tiếp giữa các mùa trong năm, kéo theo sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Đối với người cao tuổi, giai đoạn này thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe do hệ miễn dịch suy giảm và cơ thể dần lão hóa.

  • 29/03/2025

    Đi bộ nhanh mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong

    Một nghiên cứu mới cho thấy, hoạt động thể chất vừa phải như đi bộ nhanh, yoga, làm vườn… mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong.

Xem thêm