Nhiễm giun đường ruột là tình trạng khá phổ biến tại các nước nằm trong vùng nhiệt đới. Ở nước ta có tới 70-80% trẻ em bị nhiễm giun đường ruột. Nguyên nhân do khí hậu nóng ẩm, môi trường ô nhiễm, thói quen ăn uống thiếu vệ sinh. Hậu quả của nhiễm giun đường ruột làm cho trẻ biếng ăn, chậm lớn, suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng và các biến chứng nguy hiểm.
Các loại nhiễm giun thường gặp ở trẻ em
Giun đũa: cư trú ở ruột non, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài gây ô nhiễm nước, đất cát... khi ăn phải trứng giun, trứng vào ruột nở thành ấu trùng rồi di chuyển vào phổi lên khí quản, qua thực quản xuống ruột non trở thành giun trưởng thành.
Trẻ bị nhiễm giun đũa thường đau bụng vòng quanh rốn, nôn ra giun, đi cầu ra giun và hay bị rối loạn tiêu hóa. Khi quá nhiều giun ở ruột có thể gây tắc ruột, viêm ruột thừa, viêm phúc mạc do thủng ruột hoặc giun di chuyển vào đường gan mật viêm đường mật, giun chui ống mật, áp-xe gan.
Giun kim: cư trú ở ruột già, giun cái đẻ trứng vào ban đêm ở hậu môn. Trứng có ấu trùng vào ruột phát triển thành giun trưởng thành . Đường lây nhiễm từ hậu môn vào miệng qua bàn tay, quần áo, giường chiếu. Nhiễm giun kim hay gặp ở trẻ nhỏ, ban đêm trẻ thường khó ngủ, hay quấy khóc do ngứa hậu môn và thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa, phân lỏng đôi khi có lẫn máu và chất nhầy. Do ngứa nên trẻ gãi nhiều sẽ làm hậu môn xây xát dễ nhiễm khuẩn. Có thể phát hiện thấy giun kim ở hậu môn vào buổi tối khi trẻ ngứa hoặc tìm trứng giun kim trong phân.
Giun tóc: cư trú ở ruột già. Đường lây nhiễm là sau khi ăn phải trứng có ấu trùng, trứng này theo thức ăn nước uống vào ruột, ấu trùng thoát vỏ rồi trở thành giun trưởng thành sống ở ruột già. Khi nhiễm nhiều giun tóc thì mới có biểu hiện rõ các dấu hiệu như đau bụng, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa. Nếu nhiễm nặng sẽ làm tổn thương niêm mạc ruột già gây hội chứng lỵ. Trẻ đau bụng, mót rặn, đi ngoài nhiều lần phân ít có chất nhầy lẫn máu, nặng hơn có thể gây trĩ sa trực tràng.
Giun móc: cư trú ở đoạn trên ruột non, miệng bám vào niêm mạc ruột để hút máu, trung bình một con giun móc có thể hút 0,2ml máu/ngày. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài nở thành ấu trùng. Ấu trùng vào máu lên phổi rồi xuống ruột non trở thành giun trưởng thành. Đường lây nhiễm giun móc do ấu trùng chui qua da hoặc đường miệng do ăn phải ấu trùng từ rau sống, tay bẩn, đất cát...
Nhiễm giun móc hay gặp ở trẻ em lớn sống ở vùng nông thôn do tiếp xúc nhiều với đất cát, phân bón… Khi ấu trùng chui qua da thì tại chỗ cơ thể hay thấy nốt hồng ban dị ứng hoặc các mụn nhỏ và ở giai đoạn ấu trùng qua phổi thì xuất hiện ho, ngứa họng, viêm họng. Trẻ nhiễm giun móc thường mệt mỏi, chán ăn, đau bụng, đau vùng thượng vị hoặc quanh rốn đau âm ỉ, đau cả lúc no, lúc đói, táo bón, đi ngoài phân đen, chóng mặt, ù tai, da xanh, thiếu máu. Nếu không điều trị dần dần trẻ bị thiếu máu nặng và có thể tử vong do suy tim.
Xử trí khi bị nhiễm giun
Khi trẻ có biểu hiện nôn ra giun, đi ngoài ra giun, ngứa hậu môn… hoặc xét nghiệm phân có nhiều trứng giun thì tẩy giun cho trẻ. Sử dụng loại thuốc tẩy giun có tác dụng trên nhiều loại giun, ít độc, ít tác dụng phụ. Không cần bắt trẻ nhịn ăn. Cụ thể: trẻ trên 2 tuổi có thể dùng thuốc mebenzazol (fugacar, vermox…) 500mg. Uống một liều duy nhất. Nếu nhiễm giun móc nặng có thể dùng 500mg x 3 ngày. Không dùng cho phụ nữ có thai. Liều lượng thuốc không phụ thuộc vào tuổi và cân nặng.
Hoặc pyrantel pamoat (combantrim, helmin tox...).
Trẻ em 11mg/kg có thể nhắc lại sau một tuần albendazol (zen ten) 400mg
Dùng cho trẻ trên 2 tuổi, không dùng cho phụ nữ có thai.
Uống 1 liều duy nhất 400 mg. Nếu nhiễm giun móc nặng có thể dùng 400mg x 3 ngày.
Phòng tránh nhiễm giun
Tăng cường vệ sinh cá nhân và môi trường.
Đối với trẻ cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi đại tiện. Ăn chín, uống nước đun sôi để nguội. Đi đại tiện vào hố xí, trẻ nhỏ đi vào bô. Không đi chân đất hoặc bò lê la dính đất để tránh ấu trùng giun móc chui qua da. Tẩy giun định kỳ cho trẻ trên 2 tuổi 6 tháng/lần, nhất là trẻ em tuổi học đường.
Đối với người chăm sóc trẻ điều quan trọng là giữ gìn vệ sinh ăn uống cho trẻ. Sử dụng nguồn nước sạch trong sinh hoạt ăn uống của trẻ. Rửa tay sạch khi chế biến thứ ăn, khi cho trẻ ăn, sau khi đại tiện. Thức ăn đậy kín không để ruồi, nhặng đậu vào, không để rác thải bừa bãi gần trẻ.
Uống nước chanh pha hạt chia có thể cải thiện tiêu hóa và giúp ngăn ngừa táo bón. Thức uống này giúp kiểm soát lượng đường trong máu nhờ hàm lượng chất xơ có trong hạt chia và những chất dinh dưỡng có trong chanh.
Từng là bí kíp để giúp giò chả, bánh đúc hay bún trở nên ngon miệng, hương vị hấp dẫn hơn, nhưng hiện nay hàn the đã bị Bộ Y tế liệt vào danh sách cực độc và cấm sử dụng trong thực phẩm. Tại sao một hoạt chất có vẻ "tiện lợi" này lại trở thành kẻ thù của sức khỏe cộng đồng? Trong bài viết này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ cung cấp thông tin giúp bạn có cái nhìn tổng quan về loại chất cấm này.
Ô nhiễm không khí và thời tiết lạnh khiến số ca nghẹt mũi, đau họng, ho, cảm lạnh gia tăng. Xông hơi bằng thảo dược tự nhiên là giải pháp đơn giản giúp thông xoang, làm dịu cổ họng và hỗ trợ đường hô hấp.
Hầu hết tóc của bạn được cấu tạo từ chất đạm (protein), cụ thể là keratin. Bổ sung chất đạm qua chế độ ăn uống có thể giúp tóc khỏe đẹp...
Táo giàu vitamin và chất xơ có lợi cho tiêu hóa. Có thể ăn táo vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày nhưng nếu mục đích ăn táo để giảm cân, hãy tham khảo 3 thời điểm hiệu quả nhất.
Hút thuốc lá từ lâu đã trở thành thói quen khó bỏ đối với hàng triệu người trên thế giới, đặc biệt là những người đã duy trì thói quen này qua nhiều năm. Tại Việt Nam, theo thống kê từ Bộ Y tế, tỷ lệ hút thuốc trong nam giới trưởng thành tuy có giảm từ 47,4% năm 2010 xuống còn 38,9% năm 2023, nhưng con số này vẫn cho thấy một thách thức lớn.
Cá khô là nguồn cung cấp protein, omega-3 và khoáng chất cô đặc. Nếu lựa chọn loại ít muối, cá khô có thể thay thế đồ tươi hiệu quả. Tham khảo danh sách 5 loại cá khô tốt nhất cho sức khỏe.
Nhiễm trùng bàng quang là một loại nhiễm trùng đường tiết niệu phát triển ở bàng quang, cơ quan rỗng chứa nước tiểu. Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể phát triển ở bất kỳ vị trí nào trong hệ tiết niệu, bao gồm thận, niệu quản, bàng quang hoặc niệu đạo.