Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Chất xơ với sức khoẻ và một số bệnh mạn tính nguy hiểm

Ngày càng có nhiều nghiên cứu về vai trò chất xơ trong dinh dưỡng và sức khỏe, nhất là về mối liên quan giữa chất xơ với một số bệnh mạn tính nguy hiểm.

1. Chất xơ là gì và nó có tác dụng gì không?

Ngày càng có nhiều nghiên cứu về vai trò chất xơ trong dinh dưỡng và sức khỏe, nhất là về mối liên quan giữa chất xơ với chuyển hóa chất béo, chuyển hóa glucose và các vai trò sinh học khác như chất xơ đối với một số bệnh mạn tính nguy hiểm (béo phì, rối loạn chuyển hóa chất béo, bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư nói chung, nhất là ung thư đường tiêu hóa, táo bón, ...).

Vậy chất xơ (fiber) là gì?

Chất xơ là chất bã của thức ăn còn lại sau khi tiêu hóa, gồm các chất tạo thành vách tế bào (cellulose, hemicellulose, pectin, cutin, glucoprotein) và các chất dự trữ, bài tiết bên trong tế bào (gụm, chất nhầy).

Chất xơ được phân loại thành 2 nhóm: Chất xơ thực phẩm và chất xơ chức năng. Chất xơ thực phẩm bao gồm polysaccharid thực vật không tiêu hóa được như: cellulose, pectin, gum, hemicellulose; Chất xơ chức năng: có hiệu quả sinh học.

Người ta cũng chia chất xơ thành 2 loại: Chất xơ hòa tan và Chất xơ không hòa tan: Chất xơ hòa tan trong chất lỏng vào đường ruột dưới dạng gel. Nguồn TP cung cấp là các loại rau, quả độ nhớt cao : rau đay, rau mồng tơi, thanh long, … Chất xơ không hòa tan: không hòa tan trong chất lỏng khi vào đường ruột. Nguồn TP cung cấp là các loại thực phẩm có nguồn gốc thực, các loại rau, hoa quả.

Công dụng của chất xơ trong cơ thể

Ảnh hưởng của chất xơ trên đường tiêu hóa chủ yếu qua 2 cơ chế: Độ nhớt của chất xơ và khả năng lên men của chất xơ.

Tại dạ dày: chất xơ không bị tiêu hóa bởi các enzyme nên còn nguyên vẹn, tính nhớt của chất xơ tan làm cho thức ăn dính lại thành một khối. Kết quả là thức ăn chậm di chuyển từ dạ dày sang tá tràng.

Tại ruột non, sự tạo khối của thức ăn dưới dạng gel hạn chế tác động của các enzym đường ruột lên các chất mỡ, chất đạm, chất đường. Hạn chế hấp thu các thực phẩm ăn vào qua cơ chế hạn chế tiếp xúc với niêm mạc ruột. Hiệu quả là giảm hấp thu các dưỡng chất, giảm chuyển hóa năng lương, giảm chỉ số đường huyết của các bữa ăn.

Tại ruột già, tác động của chất xơ chủ yếu thông qua quá trình lên men, tạo ra các axit béo chuỗi ngắn, là nguồn năng lượng cho các vi khuẩn tại đại tràng và được cho là có vai trò trong phòng chống ung thư đại tràng. Các loại thực phẩm có khả năng lên men cao là các loại cám, các loại rau có độ nhớt cao, các loại trái cây. Còn các chất xơ có khả năng lên men kém sẽ tạo thành khối với khả năng hút nước cao, dẫn đến hiệu quả là nhuận tràng, chống táo bón và gián tiếp làm tăng chất lượng cuộc sống. Nguồn thực phẩm lên men kém là các loại cám, gạo lức, các loại rau và hoa quả. Đã có trên 100 nghiên cứu xác định ảnh hưởng của chất xơ đến sự tăng khối lượng phân cho thấy, tùy theo từng loại chất xơ mà khả năng tăng khối lượng phân khác nhau.

2. Chất xơ hỗ trợ điều trị bệnh mạn tính

2.1 Chất xơ tác động như thế nào trong một số bệnh mạn tính nguy hiểm?

Đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế tác dụng của chất xơ với một số bệnh lý mạn tính nguy hiểm thường gặp như béo phì, rối loạn chuyển hóa mỡ máu, tiểu dường, tim mạch, ung thư, … Dưới dây là một số sơ đồ mô tả cơ chế tác dụng của chất xơ trong một số bệnh cụ thể.

 

Khuyến nghị về chất xơ đối với bệnh nhân béo phì là bằng nhu cầu của người bình thường (18 -20 gam chất xơ /ngày) cộng thêm 14 gam /ngày.

2.2. Chất xơ với bệnh đái tháo đường

 

Nguồn thức phẩm tốt cho bệnh nhân tiểu đường là gạo đỏ, gạo lức, các loại ngũ cốc nguyên vỏ, bánh mỳ đen, ....

2.3. Chất xơ với bệnh ung thư

Người ta ví chất xơ như một “cái chổi “quét đi các chất có hại cho cơ thể trong đường tiêu hóa theo các cơ chế đã nêu trên. Sơ đồ dưới đây là ví dụ trong ung thư vú.

 

2.4. Với bệnh tim mạch

- Chất xơ gắn kết với axit mật làm giảm nhũ tương hóa chất béo trong thức ăn.

- Thẩm thấu, kết nối với các axit béo, cholesterol trong thức ăn và cùng đào thải ra khỏi cơ thể.

- Giảm tiêu hóa, hấp thu các thực phẩm ăn vào.

- Hiệu quả là giảm cholesterol và triglycerite máu, điều hòa đường máu sau ăn.

Như vậy nếu sử dụng chất xơ đủ sẽ phòng, chống được bệnh mạch vành, bệnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu.

Theo FAO, cần có 14 g chất xơ cho mỗi 1.000 Kcal khẩu phần. Người ta cho rằng có thể đảm bảo được nhu cầu chất xơ đối với mọi lứa tuổi từ 24 tháng trở lên bằng cách mỗi ngày ăn 2 lần các loại quả, 3 lần hoặc hơn các loại rau. Số lượng mỗi lần ăn cần phù hợp với lứa tuổi. Với người Việt Nam, nhu cầu chất xơ khuyến nghị tối thiểu là 18 đến 20gam/ ngày (khoảng 300 gam rau /người/ngày và 100 gam quả chín). Nếu ăn quá nhu cầu chất xơ sẽ gây đầy hơi, chướng bụng, kém hấp thu một số chất vi khoáng, nhưng hoàn toàn không gây nguy hiểm. Tuy nhiên, theo Viện Dinh dưỡng, mức tiêu thụ rau xanh trong bữa ăn của người Việt Nam có xu hướng giảm tuy lượng quả chín có tăng lên. Vì vậy, việc khuyến khích sử dụng thêm rau quả vẫn rất cần được quan tâm.

Ngày nay công nghệ thực phẩm phát triển mạnh, nhiều loại thức ăn nhanh và đồ uống ra đời giúp việc ăn uống ngày càng tiện lợi. Ngoài việc tăng cường các vi chất dinh dưỡng, thiết nghĩ trong thời gian tới các doanh nghiệp sản xuất và chế biến sữa và thực phẩm tại Việt Nam cũng nên chú ý bổ sung thêm chất xơ, nhất là chất xơ tan vào các sản phẩm thực phẩm ăn liền, nhất là những sản phẩm dành cho trẻ em và người cao tuổi. Đó là đóng góp thiết thực vào công cuộc bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống.

PGS. TS. Phạm Văn Hoan, ThS. BS. Nguyễn Đức Minh - Theo Sức khỏe và Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 24/07/2026

    Hướng dẫn quản lý dinh dưỡng và phục hồi thể lực trong thi đấu bóng đá

    Sự kiện World Cup đang đến gần, thu hút sự quan tâm lớn đối với môn thể thao vua. Trong bóng đá hiện đại, thể lực và sức bền là những yếu tố quyết định thành bại trên sân cỏ. Một trận đấu kéo dài đòi hỏi các cầu thủ phải tiêu hao một lượng năng lượng khổng lồ thông qua các chuỗi vận động cường độ cao ngắt quãng. Dưới góc độ y học thể thao, việc thiết lập một chiến lược dinh dưỡng chuyên sâu không chỉ giúp duy trì phong độ mà còn giảm thiểu tối đa nguy cơ chấn thương cơ xương khớp.

  • 23/07/2026

    Cách phục hồi hệ tiêu hóa cho trẻ sau sử dụng kháng sinh

    Có một kịch bản quá quen thuộc tại các gia đình Việt Nam: Con chớm ho, sốt, viêm họng… đi khám hoặc tự mua thuốc uống một đợt kháng sinh 5-7 ngày. Con hết sốt, cắt ho, cha mẹ thở phào nhẹ nhõm, nghĩ rằng "cuộc chiến" đã kết thúc.

  • 23/07/2026

    Sốc nhiệt mùa nắng nóng: Nhận biết dấu hiệu và xử trí khẩn cấp đúng cách

    Sốc nhiệt là tình trạng cấp cứu y tế nguy hiểm xảy ra khi nhiệt độ cơ thể tăng vọt vượt ngưỡng an toàn, có thể gây tổn thương não và các cơ quan nội tạng, thậm chí tử vong nếu không được xử lý ngay lập tức. Trong những ngày nắng nóng đỉnh điểm tại Việt Nam, hiểu biết về sốc nhiệt có thể cứu sống một người.

  • 22/07/2026

    Mùa hè uống gì tốt nhất?

    Vào mùa hè, nhu cầu bổ sung nước và dưỡng chất của cơ thể tăng cao. Bên cạnh nước lọc, một số đồ uống giúp cung cấp vitamin, chất chống oxy hóa, hỗ trợ tiêu hóa và góp phần duy trì sức khỏe nếu sử dụng hợp lý.

  • 22/07/2026

    Tại sao người Nhật có sức khỏe tốt?

    Nhật Bản không chỉ giữ kỷ lục về tuổi thọ, mà tỷ lệ béo phì, thừa cân ở Nhật Bản cũng luôn được duy trì ở mức thấp nhất trên thế giới (3%). Hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu bí quyết sức khỏe của người Nhật.

  • 21/07/2026

    Uống nước lá đinh lăng, lạc tiên có tác dụng gì?

    Nước lá đinh lăng, lạc tiên là sự kết hợp giữa hai loại thảo dược phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam, bao gồm lá đinh lăng và lạc tiên. Cả hai loại thảo dược này đều có nhiều công dụng cho sức khỏe.

  • 21/07/2026

    Sai lầm thường gặp của cha mẹ khiến trẻ “bỏ lỡ” tăng trưởng mùa hè

    Mùa hè chính là "giai đoạn vàng" để trẻ bứt phá chiều cao nhờ quỹ thời gian thoải mái, giúp dễ dàng thiết lập các thói quen tốt.

  • 20/07/2026

    Phụ nữ mang thai có nên ăn gạo lứt?

    Tỷ lệ rối loạn đường huyết và đái tháo đường thai kỳ ở Việt Nam tăng lên, khiến nhiều phụ nữ mang thai lo lắng. Vì vậy, nhiều mẹ bầu lựa chọn gạo lứt thay thế gạo trắng trong bữa ăn. Điều này có thực sự tốt cho thai kỳ?

Xem thêm