Với cận thị ở trẻ em thì điều phiền toái thường gặp với bản thân trẻ và cha mẹ chúng là việc thường xuyên phải thay kính. Bên cạnh đó, trẻ cận thị nặng còn tiềm ẩn nguy cơ bệnh lý tại mắt như bong võng mạc, thoái hoá hoàng điểm… Các bác sĩ ở nhiều quốc gia đã có những nỗ lực đáng kể trong việc tìm kiếm loại thuốc có thể làm chậm tiến triển cận thị và họ đã phát hiện ra công dụng mới của atropine.
Cận thị gia tăng mạnh
Cận thị gia tăng mạnh trong vài thập niên gần đây, là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực. Tại Mỹ, ước chừng có 42% trẻ em cận thị, tăng 25% so với thập niên 70. Báo cáo của các nước châu Á trên trẻ em cận thị chiếm tỷ lệ 80-90%. Điều lo ngại cho trẻ cận thị không chỉ là việc thay và mua kính gọng hay kính tiếp xúc mới mà còn là những biến chứng tiềm tàng và nguy hiểm nếu cận thị mức nặng - số kính cao như bong võng mạc, thoái hóa hoàng điểm, đục thể thủy tinh và glôcôm sắc tố. Rất nhiều nghiên cứu viên nhãn khoa hy vọng giảm thiểu được số người cận thị số cao, do vậy cũng giảm thiểu được người bị những biến chứng vừa nêu. Một trong những cứu cánh của họ chính là atropine.
Thuốc nhỏ mắt atropine có thể làm chậm tiến triển cận thị ở trẻ em.
Và ứng dụng của atropine trong điều trị cận thị
Đã nhiều năm các bác sĩ mắt dùng dung dịch atropine nhỏ mắt 1% để điều trị lác, nhược thị, hay như một loại thuốc thay thế. Các bác sĩ mắt ở châu Á, nơi mà cận thị đang ở mức cảnh báo bắt đầu nghiên cứu dùng atropine nhỏ mắt để làm chậm lại cận thị tiến triển từ những năm 80. Nhưng mãi đến năm 2000 vẫn chưa có những nghiên cứu nghiêm túc để đánh giá tác dụng và độ an toàn của loại thuốc này. Các bác sĩ dùng atropine với nồng độ khác nhau để điều trị cận thị cho thấy, dùng ở nồng độ cao, atropine gây giãn đồng tử trong một tuần, do vậy gây các tác dụng phụ như nhìn mờ khi đọc sách, sợ ánh sáng. Trẻ đang đeo kính phải chuyển sang dùng kính 2 tròng hoặc kính màu, thêm nữa, thuốc có thể gây kích ứng da. Chính những tác dụng phụ của thuốc làm người ta không ưa dùng atropine, đặc biệt là ở Mỹ. Tuy nhiên, TS. David Hunter - Trưởng khoa Mắt Bệnh viện Nhi Boston, Đại học Y Harvard trong nghiên cứu gần đây của mình đã chứng tỏ nồng độ atropine thấp hơn gần như không có tác dụng phụ còn nhóm của BS. Donald T.Tan - giáo sư nhãn khoa, nghiên cứu viên chính của Viện Nghiên cứu và Viện Mắt Quốc gia Singapore đã tìm ra nồng độ thấp nhất của atropine có tác dụng với cận thị qua các quãng thời gian, đồng tử không bị giãn quá 1mm và gần như không bị mất thị lực nhìn gần, giúp cho đọc sách và nhìn vật tiêu gần không bị ảnh hưởng.
BS. Donald T. Tan cho biết, một ngày nào đó, điều này có thể thực hiện được. Trong 5 năm tiến hành thử nghiệm lâm sàng, dung dịch atropine 0.01% tỏ ra có tác dụng làm chậm đi tiến triển của cận thị trên 50% các trường hợp và hầu hết không gây tác dụng phụ. Các khám phá cũng gợi ý rằng loại thuốc này cũng là ứng cử viên tiềm tàng để trở thành phương thuốc điều trị hiệu quả chống lại trào lưu cận thị trên toàn thế giới. Cùng với các can thiệp khác, phương pháp điều trị trên có thể trở thành phương pháp dự phòng tuyệt vời đối với giảm thị lực do cận thị cho trẻ em trên toàn thế giới, Dr. Tan nhấn mạnh.
Hiện nay, cơ chế hoạt động của atropine trong việc giảm nhẹ cận thị còn chưa được hiểu biết tường tận. Các chuyên gia cho rằng cần xác định khi nào thì điều trị này an toàn, thuốc nhỏ trong bao nhiêu lâu thì có tác dụng. Cần có thêm những nghiên cứu trên atropine với cận thị tiến triển tiến hành tại châu Âu, Nhật Bản để giúp trả lời những câu hỏi trên. Nhưng với tỷ lệ cận thị tăng vọt như hiện nay, nó có thể là công cụ chính để điều trị căn bệnh này ở trẻ em.
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.
Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!